NĂNG LỰC GIAO THOA VĂN HÓA LÀ GÌ? – PHẦN 4
NĂNG LỰC GIAO THOA VĂN HÓA LÀ GÌ? – PHẦN 4
Ở bài trước chúng ta biết được rằng tư duy phản biện là một kỹ năng dựa rất nhiều kiến thức nền. Trong bài này, chúng ta sẽ cùng một trong những lý thuyết chỉ ra sự khác biệt giữa nền văn hóa của các quốc gia bằng con số cụ thể.
Siêu công trình của Hofstede
Cho đến giờ, nghiên cứu của Hofstede vẫn là một tài liệu tham khảo quan trọng cho bất cứ ai muốn tìm hiểu về văn hoá. Một nền văn hoá không bao giờ và không thể đồng nhất, vì mỗi người mỗi vẻ nhưng tóm lại vẫn có những khái niệm tương đối, như văn hoá Đức, văn hoá VN, vẫn có những mẫu số chung.

Mẫu số chung vẫn tồn tại trong các nền văn hóa. (Photo credit: Unsplash)
Geert Hofstede , nhà khoa học xã hội người Hà Lan, là người đầu tiên phát triển mô hình lý thuyết thể hiện sự khác biệt giữa các nền văn hóa khác nhau thông qua chỉ số cụ thể, thông quá đặt một nền tảng vững chắc cho lĩnh vực này. Từ năm 1967 đến 1973, ông thực hiện một cuộc khảo sát diện rộng với sự tham gia của 117,000 nhân viên của tập đoàn IBM đến từ 50 quốc gia ở 3 châu lục khác nhau. Sau khi xử lý số liệu từ cuộc khảo sát, Hofstede phát triển lý thuyết về các phương diện văn hóa của chính mình (Hofstede’s cultural dimensions theory).
Lý thuyết này ban đầu có 4 chỉ số [1] : chủ nghĩa cá nhân – chủ nghĩa tập thể (individualism – collectivism); mức độ e ngại rủi ro (uncertainty avoidance); khoảng cách quyền lực (power distance) và định hướng công việc – định hướng cá nhân (masculinity-femininity) . Sau đó, lần lượt vào năm 2010 và 2015, ông đã thêm 2 chỉ số: định hướng dài hạn và định hướng ngắn hạn (long-term orientation) và tự thỏa mãn và tự kiềm chế (indulgence vs restraint). [2], [3]
| Chiều hướng văn hóa | Thấp | Cao | Mô tả |
| Khoảng cách quyền lực | Khoảng cách quyền lực | Mức độ phân phối quyền lực một cách không công bằng mà thành viên ít quyền lực hơn của một xã hội chấp nhận và kỳ vọng | |
| Chủ nghĩa cá nhân – Chủ nghĩa tập thể | Tập thể | Cá nhân | Mức độ phụ thuộc lẫn nhau giữa các thành viên trong một xã hội |
| Định hướng công việc – Định hướng cá nhân | Định hướng cá nhân | Định hướng công việc | Dành ưu tiên cho thành tích, chủ nghĩa anh hùng, sự quyết đoán, phần thường vật chất cho thành công (định hướng công việc). Dành ưu tiên cho sự hợp tác, tính khiêm tốn, bảo vệ kẻ yếu, và chất lượng cuộc sống (định hướng cá nhân). |
| Phòng tránh rủi ro | Phòng tránh rủi ro | Mức độ bị đe dọa bởi các tình huống mơ hồ và mức độ ngại rủi ro của xã hội. | |
| Định hướng dài hạn và ngắn hạn | Ngắn hạn | Dài hạn | Duy trì các truyền thống lâu đời trong khi nghi ngờ các thay đổi của xã hội (ngắn hạn). Ủng hộ lối sống tiết kiệm và đầu tư vào giáo dục hiện đại để chuẩn bị cho tương lai (dài hạn)/ |
| Tự thỏa mãn – Tự kiềm chế | Kiềm chế | Thỏa mãn | Sự cho phép của xã hội trong việc thỏa mãn các nhu cầu hưởng thụ cuộc sống của con người (Thỏa mãn). Sự kiểm soát của xã hội, bởi những định kiến, chuẩn mực nghiêm ngặt, trong việc hưởng thụ của cá nhân. |
Nguồn: [4]
Trước khi đến thăm hay đi du học một quốc gia hoặc đơn thuần tìm hiểu về 1 đất nước nào đó, bạn có thể vào trang web (Hofstede Insight) để có cái nhìn sơ bộ, tổng quát về nền văn hóa của quốc gia đó. Dùng trang web này bạn thậm chí còn có thể so sánh các quốc gia với nhau. Chẳng hạn, hình ảnh bên dưới là sự khác biệt giữa nước ta và Mỹ:

So sánh các chỉ số chiều văn hóa giữa Việt Nam và Mỹ
Về mặt thực tiễn, mô hình này sẽ giúp bạn có một hình dung cơ bản về nền văn hóa của quốc gia khác khi đối chiếu với nền văn hóa của mình. Bên cạnh đó bạn cũng có thể dùng nó cho các tình huống giao tiếp trong công việc: giả sử như bạn có một cuộc gặp gỡ với một nhóm đối tác người Mỹ, bạn sẽ biết nên điều chỉnh hành vi của mình như thế nào cho phù hợp: bạn sẽ muốn thẳng thắn hơn, chấp nhận rủi ro nhiều hơn, tập trung nói về thành tích nhiều hơn. Ở chiều ngược lại, các đối tác người Mỹ, nếu biết về các chỉ số văn hóa của Việt Nam, cũng sẽ giảm bớt tính cá nhân của mình, làm việc với tâm thế để đạt được sự hòa hợp hoặc nghĩ nhiều hơn về các kế hoạch tương lai.
Tuy nhiên…
Đừng giả định những con số ấy có thể dùng để đánh giá hơn 1 tỷ người TQ hay gần 100 triệu người VN. Hơn nữa, các số liệu này không tính đến chuyện văn hóa sẽ không ngừng thay đổi theo thời gian.
Dù là mô hình nền tảng có tầm ảnh hưởng rộng lớn, nhưng lý thuyết về chiều văn hóa của Hofstede gây ra không ít tranh cãi trong giới nghiên cứu văn hóa. Nhà khoa học M. L. Jones, trong một bài báo của mình, đã tổng hợp các luận điểm chống lại lý thuyết chiều nghiên cứu văn hóa [5]. Trong số đó, luận điểm nổi tiếng nhất nhắm vào tính thuần nhất củavăn hóa: Hofstede giả định rằng mỗi quốc gia chỉ có 1 dân tộc duy nhất, trong khi các quốc gia lại được hình thành bởi nhiều dân tộc khác nhau và những nền văn hoá khác nhau (subcultures). Nói cách khác, ông đánh đồng quốc gia và văn hoá. Ví dụ Việt Nam có 3 miền, 7 vùng, 54 dân tộc, v.v. Quyết định này khiến cho nghiên cứu của ông chưa “quét” được nhóm giá trị của các dân tộc khác trong một quốc gia. Bên cạnh đó, Việt Nam là 1 trong những quốc gia phát triển nhanh nhất trên thế giới.
Cho đến đây, chúng ta đã hiểu rõ hơn về những ưu nhược điểm của mô hình Hofstede. Nếu như “trăm nghe không bằng một thấy” thì những kiến thức ta thu lượm được từ lý thuyết về chiều văn hóa của Hofstede mới chỉ dừng lại ở mức” nghe” và mang tính chuẩn bị cơ bản. Để thực sự hiểu một nền văn hóa dù ở mức độ nào, ta vẫn cần “thấy” nhiều hơn, nói rộng ra nghĩa là đắm mình vào nền văn hóa đó để được tận mắt chứng kiến và trực tiếp trải nghiệm. Vậy trong bài tới đưa ra các phương pháp để giúp bạn cải thiện kiến thức, kỹ năng, thái độ giao thoa văn hóa của mình.
—
Tài liệu tham khảo
[1] Hofstede, G. (2001). Culture’s consequences: Comparing values, behaviors, institutions and organizations across nations. Sage publications.
[2] Hofstede, G., & Bond, M. H. (1988). The Confucius connection: From cultural roots to economic growth. Organizational dynamics, 16(4), 5-21.
[3] Hofstede, G. (2011). Dimensionalizing cultures: The Hofstede model in context. Online readings in psychology and culture, 2(1), 2307-0919.
[4] Hofstede, G., G. J. Hofstede, and M. Minkov (2010),Cultures and Organizations: Software of the Mind. Revised and Expanded, 3rd Edn. New York: McGraw Hill.
[5] Jones, M. L. (2007). Hofstede-culturally questionable?.




Leave a Reply
Want to join the discussion?Feel free to contribute!