Posts

KHÁM PHÁ PUBLIC SPEAKING BẰNG CÔNG CỤ DỮ LIỆU LỚN

By Nhat Pham

Sinh viên trong lớp giao tiếp chiến lược thường hỏi tôi cách để trở thành một người giao tiếp giỏi và thu hút hơn. Câu hỏi này hoàn toàn không mới vì nó  đã được các nhà hùng biện từ thời Hy Lạp cổ đại khám phá. Tuy vậy, khác với Cicero hay Aristotle, giờ đây chúng ta có các công cụ dữ liệu lớn (big data) và các kỹ thuật học máy (machine-learning) để tìm ra các đặc điểm cốt lõi của một diễn thuyết gia hiệu quả.

Một trong những cá nhân đang tận dụng những công nghệ này (đồng thời là một troong những giảng viên thỉnh giảng nổi tiếng nhất của tôi) là Noah Zandan, sáng lập viên và đồng thời là giám đốc điều hành của Quantified Communications, một nền tảng phân tích cung cấp các giải pháp để đo lường, đánh giá, và cải thiện khả năng giao tiếp của các các lãnh đạo doanh nghiệp.

Nhóm các nhà khoa học dữ liệu của Zandan đã phân tích hơn 100,000 bài thuyết trình từ các lãnh đạo doanh nghiệp, chính trị gia, và các diễn giả. Họ nghiên cứu tất cả các đặc tính từ cách dùng từ và cách nhấn giọng cho đến biểu cảm và tần suất các cử chỉ rồi  dùng dữ liệu này để đánh giá và xếp hạng các yếu tố quan trọng trong giao tiếp như: tính thuyết phục, sự tự tin, sự ấm áp, và  tính rõ ràng.

Zandan dùng khung lý thuyết giao tiếp của nhà tâm lý học Albert Mehrabian để làm nền tảng cho các phân tích tại công ty của mình. Anh và nhóm của mình mở rộng “3 chữ V” (verbal, vocal, visual choices – ngôn từ, ngôn thanh, và lựa chọn các phương tiện nhìn) của Mehrabian bằng cách thêm chữ V thứ tư: vital elements of communication (những yếu tố then chốt trong giao tiếp).

Dưới đây là những gì nhóm của Zandan đã tìm được khi nghiên cứu những người giao tiếp giỏi nhất kết hợp với những khái niệm tôi đã dạy trong lớp của mình.

Chân dung Noah Zandan (nguồn: https://www.noahzandan.com/about)

NGÔN TỪ

Từ ngữ bạn dùng, dù trong văn nói hay văn viết, đều quan trọng. Zandan và các đồng sự của mình khám phá ra rằng ngôn ngữ sử dụng trong các hội nghị báo cáo tài chính trực tuyến (corporate earnings calls) ảnh hưởng đến 2,5% biến động giá cổ phiếu. Dựa trên dữ liệu từ những diễn giả thành công nhất, bên dưới là ba thứ bạn có thể ghi nhớ.

Thứ nhất, cách dùng từ nên phù hợp với đối tượng khán giả và tương thích với bối cảnh của bài nói (ví dụ như bối cảnh trịnh trọng). Dùng nhiều thuật ngữ chuyên môn dường như sẽ làm khán giả của bạn khó hiểu . Cách giải quyết  tốt nhất là luôn dành thời gian để định nghĩa các thuật ngữ mà khán giả có thể chưa biết. Nhờ ai đó kiểm tra nội dung bài nói một cách chi tiết để chắc rằng những lựa chọn từ ngữ của bạn là đúng đắn cũng là một điều nên làm

Thứ hai, tránh dùng ngôn ngữ rào (hedging language). Lượng từ như “khá là” hay kiểu ngôn ngữ chần chừ như “tôi nghĩ” có thể có lợi trong giao tiếp hằng ngày, vì nó mời người nghe đóng góp cũng như điều chỉnh vị thế của bạn so với họ. Nhưng trong bối  cảnh của một bài nói trước công chúng, nó có thể làm giảm uy tín của bạn. Bạn sẽ trông tự tin hơn khi loại bỏ lượng từ và nói “Tôi cảm thấy” hay “Tôi tin.” Cách tốt nhất để bạn tự để ý tới tần suất sử dụng ngôn ngữ rào của mình là nhờ một đồng nghiệp thân thiết ra hiệu khi bạn đang tập dượt. Một khi đã nhận ra điều này, bạn sẽ có thể chủ động loại bỏ kiểu ngôn ngữ này.

Cuối cùng, một điều quan trọng khác là cần nói rõ ràng và ngắn gọn . Các nghiên cứu chỉ ra g rằng các thông điệp súc  tích sẽ dễ nhớ hơn. Zandan và các cộng sự nhận thấy thông điệp của những diễn giả hiệu quả thường ngắn gọn hơn thông điệp của những diễn giả trung bình hoặc dưới trung bình. Nhiều diễn giả nói như thể họ đang viết: dùng câu phức với nhiều mệnh đề và cụm từ được lồng vào nhau. Cách này hiệu quả trong văn viết, nhưng sẽ khó để nói và khó để khán giả theo dõi khi bạn thuyết trình. Khi viết, ta không phải nghĩ đến việc dừng lại để lấy hơi, cũng không phải lo về người đọc có thể hiểu những gì ta viết hay không vì họ luôn có thể đọc lại những đoạn văn khó hiểu. Tóm lại, hãy bắt đầu lược  bỏ những từ ngữ thừa nghe có vẻ hay khi đọc thầm những không giúp gì nhiều khi nói thành tiếng. Khi tập dượt, bạn cũng có thể nhờ người khác trình bày  lại bài nói của bạn bằng từ ngữ của họ để tham khảo cách dùng từ.

NGÔN THANH

Các yếu tố ngôn thanh bao gồm âm lượng, tốc độ, và nhịp điệu. Bí quyết để điều khiển các yếu tố này là biến thể (variation) và sự uyển chuyển (fluency). Hãy tưởng tượng giọng nói của bạn như một cơn gió. Bạn có thể làm nó to hơn, nhẹ hơn, nhanh hơn hay chậm hơn. Não bộ của bạn được thiết kế để chú ý đến những thay đổi này, vì thế nên ta thường gặp khó khăn khi nghe một giọng nói đều đều. Thực tế, tăng các yếu tố ngôn thanh lên  chỉ  10%  cũng có thể có tác động lớn đến sự tập trung của khán giả và khả năng ghi nhớ thông điệp của họ.

Các diễn giả ít biểu lộ cảm xúc nên đa dạng hóa âm lượng và tốc độ bằng cách thêm vào bài nói các từ gợi cảm như “hào hứng”, “giá trị”, và “cam go” và điều chỉnh tông giọng để phù hợp với các từ này. Nếu bạn đang nói về một cơ hội lớn, vậy hãy nói “lớn” thật lớn. Dần dần thông qua luyện tập, bạn sẽ cảm thấy thoải mái hơn về kiểu biến đổi ngôn thanh này.

Từ lấp (disfluencies) – tất cả những từ như “ừm” hay “ờ” có thể là yếu tố ngôn thanh khó sửa nhất. Không phải từ lấp nào cũng gây xao nhãng. Chẳng hạn như “Ưum” và “ờ” trong câu không gây chú ý cũng như không gây khó chịu bằng những từ xuất hiện giữa các ý hoăc các cụm từ. Khán giả có thể sẽ bỏ qua những từ lấp ở giữa câu vì họ đang tập trung vào nội dung của bài nói hơn là cách truyền tải. Nhưng khi bạn chuyển từ một ý này sang ý khác, từ lấp sẽ trở nên nổi bật vì lúc này khán giả không còn tập trung vào những gì bạn nói. Một cách ngắn gọn, khán giả đang kỳ vọng một khoảng dừng yên lặng thì bạn lại lên tiếng.

Để giải quyết từ lấp khi chuyển giữa các ý, đảm bảo rằng bạn kết câu của mình, đặc biệt là khi đang nói về những ý quan trọng bằng cách thở ra. Khi kết thúc cụm từ của bạn bằng hơi thở ra, bạn sẽ phải bắt đầu ý tiếp theo bằng một hơi thở vào. Như vậy, bạn gần như không thể nói “ừm” (hay bất cứ từ khác kiểu vậy) khi hít vào. Một cách hiệu quả để luyện tập kỹ năng này là đọc thành tiếng và chú ý cách thở của bản thân. Bên cạnh việc loại bỏ các từ lấp, hởi thở cũng mang lại một khoảng dừng ngắn. Khoảng dừng này giúp bạn đa dạng tốc độ bài nói.

THỊ GIÁC

Các yếu tố thị giác (trong khung lý thuyết của Mehrabian) liên quan đến cách bạn chuyển động cơ thể. Zandan chỉ ra các nghiên cứu của các nhà giáo dục học gợi ý rằng 83% việc học tập của con người xảy ra thông qua thị giác. Những hành vi phi ngôn từ như tư thế đứng, cử chỉ, và ánh mắt không chỉ quan trọng trong việc truyền tải và củng cố thông điệp của bài nói, mà nó còn là tiêu chí để khán giả đánh giá sự tự tin của bạn. Điều này quan trọng vì khán giả sẽ xem năng lực của bạn ngang bằng với hình dung của họ về sự tự tin của bạn.

Bạn nên đứng một cách vững chãi và cân bằng. Đứng hoặc  ngồi để hông và vai của bạn tạo thành hình vuông (nghĩa là bạn không nên hướng về một bên) và giữ đầu thẳng, không nghiêng. Thuyết trình trong một tư thế cân bằng không những giúp bạn trông tự tin hơn, mà nó còn giúp bạn thực sự tự tin hơn. Khi bạn đứng vững, não bạn sẽ tiết ra một chất dẫn truyền thần kinh giúp chặn đứng các loại hóc môn gây lo âu.

Cử chỉ nên phóng khoáng và rộng rãi. Khi thực hiện bất cứ một cử chỉ nào,bạn nên mở rộng sang hai vai thay vì giữ trước ngực, vì nó sẽ làm bạn trông nhỏ bé và tự vệ. Khi không thực hiện cử chỉ, đặt hờ cánh tay ở hai bên hông, hoặc chắp tay nhẹ ngay trước bụng. Cuối cùng, loại bỏ tất cả những vật dụng có thể gây xao nhãng mà bạn có thể vọc vạch như trang sức, bút, hay điều khiển slide.

Mục đích lớn nhất của giao tiếp bằng mắt là để kết nối với khán giả. Trong văn hóa Bắc Mỹ, khán giả sẽ kỳ vọng điều này, và họ sẽ nhanh chóng cảm thấy bị né tránh nếu như bạn không nhìn họ. Bạn cần nhìn khắp khán phòng để kết nối với khán giả, nhưng không có nghĩa là bạn cần nhìn từng người một, đặc biệt là khi bạn đứng trước rất nhiều khán giả. Một cách hữu hiệu là chia khán phòng ra thành các  góc phần tư và nhìn theo các hướng đó. Tuy nhiên, bạn nên cố tránh nhìn theo một thứ nhất định khi lướt mắt. Cuối cùng, như lời khuyên của Zandan dành cho khách hàng, nếu bạn đang thuyết trình từ xa thông qua camera, hãy tưởng tượng bạn đang nói chuyện trực tiếp với mọi người và nhìn thẳng vào camera, đừng nhìn vào màn hình hay bàn phím.

CÁC YẾU TỐ THEN CHỐT:

Các yếu tố then chốt chính là con người thật của diễn giả. Một số diễn giả gọi các yếu tố này là sự chân thật. Nhóm của Zandan tìm ra rằng nhóm 10% những diễn giả chân thật nhất được tin tưởng hơn 1.3 lần và cũng có khả năng thuyết phục hơn 1.3 lần so với những diễn giả trung bình. Tính chân thật được tạo nên từ niềm đam mê và sự ấm áp khi người ta thuyết trình.

Niềm đam mê đến từ nguồn năng lượng vô tận và lòng nhiệt huyết. Khi chuẩn bị và luyện tập cho bài nói, hãy nghĩ về những lý do làm bạn hào hứng về chủ đề của mình và những lợi ích gì của bài nói cho khán giả. Gợi nhớ bản thân về động lực của mình có thể giúp bạn bơm thêm năng lượng (hoặc tái tạo lại năng lượng nếu như đây là chủ đề bạn đã nói đi nói lại nhiều lần). Bên cạnh đó, suy nghĩ về việc giúp khán giả, học, phát triển, và thành công sẽ giúp bạn hừng hực khí thế. Và nguồn năng lượng này sẽ tỏa ra thông qua cách bạn truyền tải thông tin. Nhưng không có nghĩa là bạn phải hừng hực  như một cổ động viên, mà bạn cần tìm ra phương pháp để truyền đạt thông tin một cách chân thật và ý nghĩa.

Ấm áp có thể được xem là một chỉ dấu của thấu cảm. Nó là sự kết hợp giữa việc hiểu như cầu của khán giả và diễn giải sự hiểu đó bằng ngôn từ và hành động của bạn. Để được xem là ấp ấm, bạn nên công nhận nhu cầu của khán giả bằng cách lặp lại chúng (“Giống như mọi người, mình cũng đã từng…”) và bằng cách kể những câu chuyện thể hiện bạn hiểu nhu cầu của họ thế nào, chẳng hạn như có một vị giám đốc đã đã kể về cuộc gọi nhờ hỗ trợ kỹ thuật khó khăn nhất cô từng gặp phải khi nói chuyện với bộ phận chăm sóc khách hàng của mình. Ngoài ra, bạn nên duy trì một tư thế thân thiện bằng cách nghiêng người về phía trước và tiến đến những khán giả đặt câu hỏi.

Trước bài nói tiếp theo, hãy thử nguyên tắc 4 chữ V và những gợi ý chi tiết đến từ dữ liệu lớn và công nghệ học máy để xem liệu rằng chúng có thể đáp ứng nhu cầu của bạn. Chỉ khi phản tư, luyện tập, và cởi mở với những điều mới bạn mới có thể trở thành một diễn giả giỏi và thu hút

Có bao giờ bạn thử phân tích bài nói của mình hay nhận xét bài nói của người khác bằng nguyên tắc 4 chữ V?

Bài viết gốc: https://www.gsb.stanford.edu/insights/big-data-approach-public-speaking

MỘT ĐIỀU NGẠC NHIÊN: GOOGLE HỌC ĐƯỢC TỪ NHÂN VIÊN CỦA MÌNH MANG Ý NGHĨA NHƯ THẾ NÀO ĐỐI VỚI CÁC BẠN TRẺ NGÀY NAY

Khi nói về các kỹ năng cần thiết của thế kỷ 21, mọi người thường cho rằng học sinh cần học thành thạo các môn STEM – bao gồm Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật và Toán học – và học cách viết mã số. Vì đa số công việc đều cần những kỹ năng này. Hóa ra những gì sinh viên cần biết và có thể làm hoàn toàn được đơn giản hóa. Đáng ngạc nhiên, điều này được chứng minh bởi Google.

Bài viết này giải thích những gì Google đã học được từ nhân viên của mình và điều đó có ý nghĩa như thế nào đối với sinh viên trên toàn quốc. Đồng thời, tác giả của bài viết là Cathy N. Davidson, giám đốc sáng lập của “Sáng kiến ​​Tương lai”, một giáo sư trong chương trình tiến sĩ bằng tiếng Anh tại Trung tâm Sau đại học, CUNY. Cô là tác giả của cuốn sách, “Nền Giáo dục mới: Làm sao để cách mạng hóa trường đại học để chuẩn bị một thế hệ Sinh viên thích ứng với dòng chảy của thế giới. ” Cô cũng là thành viên trong ban điều hành của Quỹ Mozilla, và được Tổng thống Barack Obama bổ nhiệm vào Hội đồng Quốc gia về Nhân văn.

GOOGLE ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CỦA NHÂN VIÊN DỰA TRÊN YẾU TỐ GÌ?

Ở Mỹ, học sinh hầu hết đang lo lắng hoàn thành bài luận về “ Tôi ước muốn trở thành người như thế nào?” để nộp đơn vào đại học. Các bạn được gia đình và các chuyên gia khuyên rằng hãy viết nhiều về STEM( Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật và Toán học). Mọi người khẳng định đó là cách duy nhất để dễ dàng tuyển chọn. Nhưng hai nghiên cứu gần đây nói về thành công tại nơi làm việc cho ra kết quả trái ngược với sự hiểu biết thông thường về “kỹ năng cứng”. Đáng ngạc nhiên, nghiên cứu này đến từ công ty được xác định là tiếp cận STEM nhiều nhất: Google.

Sergey Brin và Larry Page, hai nhà khoa học máy tính lỗi lạc đồng thành lập công ty của họ với niềm tin rằng chỉ những nhà công nghệ mới có thể hiểu được công nghệ. Ban đầu, Google thiết lập các thuật toán tuyển dụng của mình để sắp xếp các sinh viên thuộc ngành khoa học máy tính có điểm cao nhất từ ​​các trường đại học khoa học ưu tú.

Sergey Brin và Larry Page

Vào năm 2013, Google đã lấy dữ liệu tuyển dụng, sa thải và thăng chức để xử lý và kiểm chứng giả thuyết của mình kể từ khi công ty được thành lập vào năm 1998. Project Oxygen khiến mọi người kinh ngạc khi kết luận rằng, trong số tám phẩm chất quan trọng nhất của những nhân viên hàng đầu của Google, khả năng chuyên môn về STEM xếp vị trí cuối cùng. Bảy đặc điểm hàng đầu của sự thành công tại Google đều là các kỹ năng mềm: kỹ năng đào tạo giỏi; giao tiếp và lắng nghe tốt; có hiểu biết sâu sắc về người khác (bao gồm những giá trị và quan điểm khác nhau của họ); có sự đồng cảm và ủng hộ đồng nghiệp của mình; là một nhà tư duy phản biện và giải quyết vấn đề tốt; và có thể tạo sự liên kết giữa những ý tưởng phức tạp.

Ngun: Google.

Những đặc điểm đó nghe giống như những kỹ năng mà người ta sẽ đạt được khi làm việc chuyên ngành về sân khấu hoặc tiếng Anh hơn là một lập trình viên. Dù đã được đào tạo về mặt kỹ thuật, nhưng có phải những nhân viên giỏi hàng đầu của Google đã thành công không vì điều đó hay không? Sau khi để các nhà nhân chủng học và dân tộc học tìm hiểu sâu hơn về dữ liệu, công ty đã mở rộng chính sách tuyển dụng trước đây của mình. Họ tuyển dụng các chuyên gia về nhân văn, nghệ sĩ và thậm chí những người có bằng MBA ( bằng Thạc sĩ Quản trị Kinh doanh) mà ban đầu, Brin và Page không đánh giá cao.

ARISTOTLE – NHƯ THẾ NÀO LÀ TINH THẦN ĐỒNG ĐỘI HOÀN HẢO?

Aristotle, một dự án nghiên cứu được Google phát hành vào mùa xuân vừa qua, góp phần nâng cao thêm tầm quan trọng của các kỹ năng mềm ngay cả trong môi trường công nghệ cao. Dự án Aristotle phân tích dữ liệu về các nhóm sáng tạo và năng suất. Nhóm A được tập hợp bởi các nhà khoa học hàng đầu. Google tự hào về nhóm A nhất vì mỗi người đều có kiến ​​thức chuyên môn nhất định và có thể đưa ra hết ý tưởng tiên tiến này đến ý tưởng sáng tạo khác. Tuy nhiên, kết quả phân tích dữ liệu tiết lộ rằng những ý tưởng mới quan trọng và hiệu quả nhất của công ty đến từ nhóm B. Nhóm này bao gồm những nhân viên không phải lúc nào cũng phải là những người thông minh nhất trong phòng.

Dự án Aristotle chỉ ra rằng các nhóm giỏi nhất tại Google sở hữu một loạt các kỹ năng mềm: bình đẳng, hào phóng, tò mò đối với ý tưởng của đồng đội, sự đồng cảm và trí tuệ cảm xúc. Và đứng đầu đó là: sự an toàn về cảm xúc. Không bắt nạt. Để thành công, mỗi thành viên trong nhóm phải cảm thấy tự tin khi lên tiếng và mắc sai lầm. Họ phải biết họ đang được lắng nghe.

D án Aristotle.

Các nghiên cứu của Google cũng đồng tình với việc mọi người đang cố gắng tìm hiểu để trở thành một nhân viên xuất sắc trong tương lai là như thế nào. Một cuộc khảo sát gần đây với 260 nhà tuyển dụng của Hiệp hội các trường đại học và nhà tuyển dụng quốc gia phi lợi nhuận, bao gồm cả các công ty nhỏ và những người có sức ảnh hưởng lớn như Chevron và IBM, cũng xếp hạng kỹ năng giao tiếp là thuộc nhóm ba phẩm chất hàng đầu được các nhà tuyển dụng tìm kiếm nhiều nhất. Họ trao phần thưởng cho cá nhân có khả năng giao tiếp với công nhân và năng khiếu truyền tải sản phẩm và sứ mệnh của công ty. Hoặc có thể kể đến tỷ phú đầu tư mạo hiểm và nhân vật truyền hình “Shark Tank” Mark Cuban: Anh ấy bắt đầu tìm hiểu các chuyên ngành triết học khi đầu tư vào những “con cá mập” có nhiều khả năng thành công nhất.

KỸ NĂNG MỀM – CHIẾC CHÌA KHÓA QUAN TRỌNG TRONG TƯƠNG LAI.

Kỹ năng STEM rất quan trọng đối với thế giới chúng ta đang sống ngày nay, nhưng chỉ riêng công nghệ, như Steve Jobs đã nhấn mạnh, là chưa đủ. Chúng tôi rất cần những người được giáo dục chuyên môn con người, văn hóa và xã hội cũng như tính toán.

Không một sinh viên nào bị ngăn cản học chuyên ngành trong một lĩnh vực mà họ yêu thích dựa trên một ý tưởng sai lầm về những gì họ cần để thành công. Sở hữu nhiều kỹ năng học tập là chìa khóa cho một sự nghiệp lâu dài, thỏa mãn và hiệu quả. Những thứ giúp bạn phát triển trong một thế giới đang thay đổi không phải là khoa học tên lửa. Nó có thể chỉ là khoa học xã hội, và, thậm chí cả khoa học nhân văn và nghệ thuật không chỉ góp phần giúp bạn trở thành công dân sẵn sàng cho lực lượng lao động mà còn cho cả thế giới.

Tác giả: Valerie Strauss (20/12/2017)

Bài viết gốc

Người dịch: Đặng Thị Quỳnh Như.

TẠI SAO CHÚNG TA THƯỜNG LỚN TIẾNG KHI TRANH CÃI? – SỰ MẤT TỰ TIN

Nghiên cứu cho thấy chúng ta thường rất tự tin về sự hiểu biết của mình nhưng lại tự ti khi truyền đạt những quan điểm đó. Vì thế chúng ta thường lớn giọng như một cách để bù đắp cho khuyết điểm này.

Trong các buổi thảo luận ngày nay, có rất nhiều trận la hét đến từ cả hai phía lập trường chính trị. Điển hình như các cuộc đấu khẩu đã nổ ra tại Hạ Viện giữa Đảng Dân Chủ và Đảng Cộng Hòa về tình trạng tiêm vaccine của các thành viên Quốc Hội, và về Thuyết Chủng tộc Phê phán lẫn vấn đề đeo khẩu trang trong cuộc họp hội đồng.

Việc la hét rõ ràng là không thể thuyết phục được ai cả, thế nhưng tại sao chúng ta lại làm như vậy? Nghiên cứu gần đây đã chỉ ra một kết quả bất ngờ: đó là sự tự ti.

Là một nhà tâm lý học xã hội, tôi đã dành hơn 15 năm nghiên cứu về những nhận thức sai lầm của con người về tầm ảnh hưởng và nhận thấy rằng khi con người quá tự tin vào quan niệm của mình, thì việc họ sẽ có khuynh hướng lớn giọng – dù người đó là hàng xóm, bạn bè hay là đối thủ – bởi lý do là chúng ta tự ti bản thân không đủ khả năng thuyết phục người khác.

Trong một thời gian dài, dường như các nhà nghiên cứu đã liên tục khám phá ra con người thường quá tự tin theo nhiều chiều hướng mới. Ví dụ, vào năm 2002 một nhóm nghiên cứu ở Stanford đã đăng lên tạp chí mục “Bản tin về nhân cách và tâm lý xã hội” về ba cuộc khảo sát, trong đó những người tham gia đã đánh giá bản thân mình ít nhạy cảm hơn đồng nghiệp hoặc “người Mỹ bình thường”. Trong lần tiếp theo, người tham gia khảo sát vẫn quả quyết khẳng định như vậy ngay cả khi nghe phân tích về việc quan điểm của họ có thể bị sai lệch như thế nào.

Với cùng một phương pháp, những nhà nghiên cứu đã nhận thấy rằng trung bình chuyện một người nghĩ bản thân mình tốt hơn theo nhiều cách (như là có đạo đức hơn, sáng tạo hơn, khỏe mạnh hơn, thậm chí lái xe giỏi hơn) so với một người bình thường – là một điều không thể thống kê được.

Trái ngược lại với những kết quả đó, nghiên cứu gần đây đã thu được những kết luận hoàn toàn khác nhau khi khảo sát về niềm tin của chúng ta đối với những thành tựu xã hội của mình, ví dụ như khả năng thuyết phục bạn bè và sức ảnh hưởng đến mọi người.

Trong một bài nghiên cứu được đăng tại Tạp chí Nhân cách và Tâm lý Xã hội năm 2017, người tham dự được yêu cầu trả lời những câu khảo sát như là ai có nhiều bạn hơn, ai có nhiều mối quan hệ cộng đồng hơn, hay là ai có mạng xã hội rộng hơn – họ phải chọn giữa bản thân họ hoặc là những người khác.

Những người tham gia đã thể hiện sự tự tin quá mức lên các yếu tố phi xã hội; ví dụ như là họ tin là họ có vốn từ vựng lớn hơn những người khác. Nhưng họ hoàn toàn thiếu tự tin vào những yếu tố xã hội, họ cho là họ có ít bạn hơn, mối quan hệ nhỏ hơn và kết nối xã hội hẹp hơn những người khác.

Một số nghiên cứu khác trong vòng 5 năm trở lại đây đã cho thấy con người có xu hướng trở nên tự ti trong lĩnh vực xã hội. Ví dụ, khi khảo sát lúc rời khỏi nơi đông người, họ tin rằng như vậy người khác sẽ ít chú ý đến mình hơn là ở lại đám đông đó.Những người phỏng vấn được tham gia vào một cuộc trò chuyện ngắn với người lạ. Những người tham gia thực nghiệm này nghĩ rằng người kia không hứng thú với họ bằng người đã thể hiện ra rõ rằng bản thân thích họ. Những người tham dự được yêu cầu dự đoán là việc muốn người khác làm theo ý của mình thì sẽ khó như thế nào. Họ đã nhận ra rằng điều đó còn dễ hơn việc thuyết phục cả bạn bè lẫn người lạ đồng ý làm một việc khó chịu và tẻ nhạt, ví dụ như đếm số hạt đậu trong hũ.

 Tóm lại, hai điều này dường như trái ngược nhau nhưng lại thật sự bổ sung cho nhau, tất cả gộp lại thành lý do dẫn đến việc la hét. Chúng ta cho rằng bản thân mình đúng và ít có thành kiến hơn người khác sẽ khiến chúng ta tự tin thái quá vào quan điểm cá nhân. Trong khi đó, việc cho rằng bản thân không được mọi người chú ý lắng nghe lại lấy đi sự tự tin về khả năng truyền đạt ý tưởng hay tính thuyết phục của bản thân.

Nói cách khác, chúng ta thường la lớn tiếng khi cảm thấy lời nói của bản thân trở nên vô hiệu lực.

Trớ trêu là, chúng ta thiếu tự tin vào khả năng thành thạo của mình và cố gắng sửa chữa để trông như một người có sức ảnh hưởng. Điều này sẽ khiến chúng ta quyết đoán một cách thái quá, và cách thuyết phục này không hề hiệu quả. Như thế thì sự bi quan trong chúng ta có thể trở thành sự tự mãn,khiến cho chúng ta mất đi sức ảnh hưởng khi cứ quát lên to hơn và to hơn nữa để được lắng nghe.

Trong một loạt nghiên cứu, các nhà nghiên cứu đã tiến hành kiểm chứng có phải mọi người quá đề cao sự quyết đoán và cho rằng để có sức thuyết phục thì cần phải quyết đoán hay không. Những người tham gia được yêu cầu lựa chọn một trong hai thông điệp để nhắc người khác cải thiện sức khỏe – một cái thì khá nhẹ nhàng lịch thiệp, cái còn lại thì nặng lời hơn và mang tính ra lệnh. Cuộc thử nghiệm cũng đưa ra nhiều tình huống khác nhau về tầm quan trọng của những nguyên tắc và mức độ tiếp thu của người nghe đối với lời khuyên này.

Kết quả là mọi người thường nghĩ vấn đề đó quan trọng nên cần thông điệp mang tính mệnh lệnh hơn mà không cân nhắc về khả năng tiếp thu của người khác. Khi họ thấy vấn đề nghiêm trọng, họ có xu hướng to tiếng hơn mặc kệ đối phương có sẵn sàng lắng nghe lời khuyên hay không.

Qua nghiên cứu, chúng tôi biết rằng lớn tiếng là hành động hoàn toàn không đúng nếu bạn muốn thuyết phục ai đó. Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu trên đã nhận thấy rằng những loại thông điệp mang tính quả quyết này thường phản tác dụng trong thực tế, đặc biệt là khi đối phương có mức độ tiếp nhận thấp. Quả thực, những lời yêu cầu có giọng điệu nhẹ nhàng đem lại hiệu quả hơn. Điều này đã được các chuyên gia nghiên cứu về tính quyết đoán của thông điệp trong các chiến dịch truyền thông sức khỏe, bao gồm chiến dịch giảm hút thuốc và tăng cường hoạt động thể thao.

Trái ngược với nhiều nghiên cứu về tầm ảnh hưởng xã hội và khả năng thuyết phục đã chỉ ra rằng, bản năng của con người khi truyền đạt tư tưởng hay lời khuyên đó là: càng ít càng hiệu quả. Chúng ta lớn tiếng vì nghĩ rằng mọi người không lắng nghe. Và cứ thế, chúng ta thường trở nên quyết đoán quá mức để cố gắng nói lên ý kiến của mình. Nếu chúng ta nói chuyện hòa nhã hơn thì những lập luận hoặc lời khuyên sẽ trở nên hiệu quả hơn.

Tiến sĩ Bohns – phó giáo sư tại đại học Cornell. Bài tiểu luận này phỏng theo quyển sách mới của cô “Bạn có sức ảnh hưởng lớn hơn bạn nghĩ: chúng ta đánh giá thấp sức thuyết phục của mình và tại sao điều đó quan trọng”, được xuất bản bởi W. W. Norton vào ngày 7 tháng 9.

Người dịch: Thanh Trà, Hoài Thương

Bài gốc

KHI CÁCH KỂ CHUYỆN QUAN TRỌNG HƠN CẢ SỰ THẬT

Một giáo viên chỉ ra rằng việc giúp học sinh phân tích rõ về những vấn đề mà chúng quan tâm sẽ mang lại hiệu quả cao hơn so với việc bắt chúng làm bài kiểm tra thuần túy.

Khi tôi còn học trung học, một trong những giáo viên dạy lịch sử của tôi cũng là huấn luyện viên bóng đá. Chúng tôi gọi ông ấy là “Huấn luyện viên Mac”. Đối với một người thiên về não phải (giải thích: là óc thiên về sáng tạo….) như tôi, lịch sử thường được xem là một cuộc phiêu lưu. Mặc dù vẫn có một số phần nhất định của chương trình học mà tôi yêu thích, nhưng tôi vẫn cố trôi theo (mà chủ yếu là tiếp thu) hình thức học theo kiểu học vẹt ngày tháng và những sự kiện mơ hồ. Nhưng thầy Mac đã dạy lịch sử cho chúng tôi thông qua các trận bóng đá và những câu chuyện của ông ấy.. Thông qua một loạt mũi tên trình bày chi tiết về đường đi của chúng, thầy Mac đã kể những câu chuyện về các cuộc xâm lược của người La Mã, các cuộc chiến tranh tôn giáo, Thành Cát Tư Hãn và sự trỗi dậy của Stalin. Tôi ngồi ở hàng ghế đầu, ghi chép rất nhiều thứ, thậm chí tôi còn là học sinh cực kỳ chăm học trong lớp mỗi ngày.

Nhờ  sự giảng dạy của thầy Mac, lịch sử trở thành chuyên ngành phụ của tôi ở trường đại học. Chưa hết, nếu bạn hỏi tôi ngày tháng và chi tiết của những sự kiện mà thầy Mac và các giáo sư đại học đã dạy cho tôi, tôi sẽ không thể cho bạn biết bất kỳ sự kiện nào nếu không có sự trợ giúp của Google. Sự thật là, lịch sử đã đánh cắp trái tim tôi không phải vì những sự kiện, mà vì những câu chuyện.

Giáo sư văn học nổi tiếng, Joseph Campbell đã nói rằng chỉ có hai kiểu câu chuyện trên thế giới, đó là: Một người hùng phiêu lưu và một người lạ đến thị trấn. Là một giáo viên tiếng Anh, tôi thích nói với học sinh của mình điều hay ho này và thách thức chúng phản bác điều đó. Chúng không bao giờ có thể làm được bởi vì mặc dù những câu chuyện thật sự có sức ảnh hưởng, chúng cũng rất đơn giản. Một câu chuyện được xây dựng tốt sẽ có một số cấu trúc, nhịp điệu và đặc điểm nhất định. Những câu chuyện thực chất chỉ là về những vị anh hùng trong một cuộc hành trình hoặc những người lạ đến một khung cảnh mới.

Đối với nhiều người Mỹ, Donald Trump là một vị anh hùng trong cuộc hành trình; đối với những người khác, ông ta lại là một kẻ lạ mặt phản diện đến thị trấn mà thôi. Không ai biết câu chuyện sẽ diễn ra như thế nào, nhưng nếu bạn  phủ nhận rằng đất nước đang trong giai đoạn phát triển rực rỡ, nói theo kiểu văn học, điều đó cũng đồng nghĩa với việc thừa nhận rằng bạn không thật sự chú ý.

Giống như nhiều nhà giáo dục khác, tôi thật sự kinh hoàng trước vô số tin tức giả mạo trôi nổi trên mạng xã hội và sức mạnh của nó đối với những người trẻ tuổi, những người có thể không có kỹ năng hiểu được nó. Nhiều người lớn lo lắng về việc làm thế nào để dạy cách thức nhận biết tin tức giả một cách tốt nhất, và nhiều chiến lược trong số đó dường như xoay quanh việc kiểm định sự thật. Và mặc dù các lớp học như lớp của tôi nên tập trung mạnh mẽ vào việc giúp sinh viên định hướng sự phát triển của  internet và phương tiện truyền thông xã hội, trở thành người tiêu dùng thông minh của phương tiện truyền thông và phát triển một mong muốn chung là tìm kiếm sự thật thay vì những điều hư cấu, chỉ tập trung vào việc kiểm tra sự thật là một cách ngây thơ để tiếp cận vấn đề.

Cũng giống như đối với tôi nhiều năm trước đây trong lớp học của thầy Mac, câu chuyện, cả hư cấu và phi hư cấu, luôn hấp dẫn hơn là một tập hợp các sự thật, vì câu chuyện bắt nguồn từ trải nghiệm của con người. Mọi người muốn kết nối với các nhân vật, muốn xem một cốt truyện phát triển đến cùng và muốn tham gia vào các tầng xung đột hấp dẫn.

Tuy nhiên, giải thích một cách chính xác với ai đó rằng Donald Trump đã không giúp giữ lại 2.100 việc làm với thỏa thuận Carrier, mà là 850, và ông ấy có thể đã không đóng góp nhiều đến thế, hoặc thỏa thuận có thể có tác động tiêu cực đối với sự tăng trưởng kinh tế và việc làm, hầu như không có ý nghĩa gì đối với những người bị mất việc làm mới có việc làm trở lại. Đối với người như vậy, có một câu chuyện thật sự gây nên tiếng vang: Trump được coi là một vị anh hùng. Khi nói với người mà hình ảnh và sự tương tác duy nhất của họ từ trước đến nay với một phụ nữ mang hijab là qua những định kiến tiêu cực trên mạng xã hội, rằng 5 trong số 12 người đoạt giải Nobel Hòa bình gần đây là người Hồi giáo sẽ chẳng có ý nghĩa gì đối với một người mà tâm trí của họ đã nhận thức người Hồi giáo như kẻ phản diện từ trước.

Sự thật (hoặc sự thật tương đối) thường ít có ý nghĩa đối với những người bị cuốn vào cốt truyện. Cách tốt nhất để dạy cho học sinh có nhận thức đúng không phải là dạy cho học sinh những sự thật (mặc dù đó vẫn là một bài học quý giá); mà là dạy cho các em kỹ năng phân tích, như người ta vẫn làm với các yếu tố tự sự.

Tại thị trấn nhỏ nơi tôi lớn lên, sự tiếp xúc duy nhất giữa tôi và người Mỹ La-tinh là với hai người đàn ông cùng làm việc tại một nhà hàng địa phương. Tôi là người phục vụ, còn họ thì làm việc trong bếp. Hai người đàn ông có tán tỉnh tôi hơi quá so với chuẩn mực giữa đàn ông trưởng thành và một thiếu nữ 17 tuổi. Đôi lúc họ làm tôi không thoải mái, và vì vậy tôi bắt đầu hình thành một nhận thức chung về người Mỹ La-tinh thuần túy dựa trên hai người đàn ông này. Câu chuyện mà tôi rút ra ra từ trải nghiệm cá nhân, bất kể thực hư ra sao, cũng là đàn ông Mỹ La-tinh ve vãn phụ nữ một cách thiếu tôn trọng. Sự thật và các con số thống kê có lẽ đã không có nghĩa lý gì để thay đổi câu chuyện trong suy nghĩ của tôi về đàn ông Mỹ La-tinh. Những cơ sở lập luận của tôi là sai, nhưng tôi chỉ quan tâm đến câu chuyện của tôi. Nếu tôi nhìn thấy bất cứ ai tôi nghĩ là đàn ông Mỹ La-tinh ở nơi công cộng, trong khi bản thân đang đứng một mình, tôi sẽ cảm thấy vô cùng lo lắng. Sự thật liệu có giúp được gì khi một cô gái 17 tuổi đang ở trong khoảnh khắc sợ hãi? Nó sẽ giống như là việc bạn nói với một người sợ đi máy bay rằng, tai nạn xe cộ xảy ra nhiều hơn là tai nạn đường hàng không vậy.

Tuy nhiên, điều thay đổi câu chuyện của tôi là khi tôi chuyển đến Nam California. Ở đó, tôi gia nhập hội nữ sinh đại học với đa số phụ nữ Mỹ La-tinh – những người đã trở thành chị em với tôi. Tôi làm công việc tiếp thị từ xa trong khuôn viên trường, bao quanh bởi nhiều người Mỹ La-tinh mà đã trở thành gia đình của tôi. Vì tôi sống xa nhà, một trong những người bạn mới của tôi thường mời tôi đến ăn tối vào các Chủ Nhật, và trong những ngày đó, cha của cô ấy nấu cho tôi món carne asada ngon nhất tôi từng ăn và tiếp đón tôi vào gia đình ông một cách nồng hậu.  Tất cả những điều đó giúp tôi có một hình ảnh khác về đàn ông Mỹ La-tinh. Tôi còn hẹn hò với một vài anh chàng Mỹ La-tinh mà đã đối xử với tôi một cách ân cần và tôn trọng .  Suy cho cùng thì, sự thật là chủ quan. Sự thật với tôi năm tôi 17 tuổi không còn đúng trong những năm tháng sau đó. Câu chuyện tôi rút ra trong năm tháng thiếu niên bỗng chốc trở nên lố bịch, không phải vì ai đó đã cho tôi biết “sự thật”, mà vì tôi đã hiểu thêm nhiều hơn về câu chuyện đó. Tôi đã phân tích thêm nhiều nhân vật và thấm thía tại sao nhận thức tôi lại sai.

Tất nhiên, việc tất cả những người trẻ tuổi đến từ các thị trấn nhỏ như nơi tôi lớn lên có được trải nghiệm như tôi đã có là điều không dễ xảy ra. Nhưng việc sao chép lại trải nghiệm đó trong lớp học là có thể.

Giờ là lúc giáo viên dạy cho học sinh của mình trở thành những người không chỉ có tư duy phản biện – biết thách thức căn cứ của sự thật, mà còn biết phân tích các thông tin được tường thuật. Đây là điều mà huấn luyện viên Mac đã làm trong lớp của ông thông qua những trận bóng bầu dục. Khi một tướng quân La Mã được đánh dấu là X trên bảng hành động làm thay đổi diễn biến câu chuyện, huấn luyện viên Mac sẽ hỏi cả lớp “Các em nghĩ tại sao ông ta lại làm như vậy?”. Lúc đó chúng tôi không có Google, nhưng kể cả nếu có, ông ấy cũng đã không bảo chúng tôi đi tìm sự thật. Thầy Mac yêu cầu chúng tôi phân tích điều vừa diễn ra, tại sao X lại hành động như vậy cho đến thời điểm đó, và có những khả năng nào cho hành động tiếp theo của ông ta.

Khi còn ở California, mô-típ chuyện “đàn ông Mỹ La-tinh là kẻ xấu” không còn phù hợp nữa khi tôi phân tích theo cách thầy Mac dạy tôi. Ngay cả khi các sinh viên không thể đến California giống như tôi, giáo viên của họ vẫn luôn có thể cho họ thấy sự đa dạng về nhân vật và tình tiết chuyện từ nhiều phương diện khác nhau, cả hư lẫn thực. Người giáo viên có thể và nên đặt những câu hỏi tương tự về các thông tin tường thuật như cách thầy Mac đã hỏi tôi và các học sinh khác về lịch sử.

Việc tạo ra chuyện để kể là nỗ lực của con người. Từ những hang đá ở Lascaux, (hang đá từ thời tiền sử) cho đến những phong tục được truyền miệng trên thế giới, con người đã tìm ra cách để chia sẻ sự thật từ góc nhìn của họ, phát triển các thông tin tường thuật theo cách có ý nghĩa với cá nhân. Người trẻ dùng mạng xã hội để kể câu chuyện và nhận thức về sự thật của họ, và cũng ở những trang này họ tìm kiếm sự thật.

Tôi cảm thấy bản thân may mắn khi được chuyển đến một nơi mới và trải nghiệm các nền văn hóa, điều đã giúp tôi thay đổi cách bản thân nhìn nhận người khác, nhưng không phải ai cũng đạt được những bước tiến như vậy. Người trẻ có cơ hội để tận dụng mạng xã hội – một không gian toàn cầu để mở mang tầm mắt và trở thành những người có tư duy phản biện trước những lời tường thuật sai trái. Điều này phụ thuộc vào cách người lớn dạy học sinh những kỹ năng này.

Người lớn có thể dạy học sinh về những người kể chuyện thiếu tin cậy, về động lực của nhân vật, và về sự cần thiết của mỗi người kể chuyện tài ba, trong việc tạo ra xung đột và trở ngại. Như gần đây tôi có giải thích với học trò của mình trong lớp viết sáng tạo – những người đang viết các vở kịch 10 phút rằng, một người kể chuyện tài ba thường đặt những trở ngại nhỏ ở phần đầu chuyện để dẫn dắt đến phần cao trào. Vì vậy, như các nhà phê bình, các học sinh, cũng như bản thân tôi đã để ý, Donald Trump gieo những hạt mầm về truyền thông xảo trá và các cuộc bầu cử gian lận như những chướng ngại vật trong câu chuyện của ông ta, để khi câu chuyện đó phát triển, những xung đột và những người tạo ra chúng ngày càng giống kẻ phản diện, còn ông ta thì ngày càng giống một vị anh hùng. Vì bản thân tôi cũng là một người kể chuyện, tôi có thể thấy được diễn biến câu chuyện sẽ ra sao. Tôi muốn các học sinh của mình cũng có kỹ năng như vậy, bởi sự thật là không đủ để nhận thức sự khác biệt giữa người hùng và kẻ xấu.

Dịch giả: Vi Phạm & Khánh Hà

BÍ QUYẾT CHO SỰ NGHIỆP – KỸ NĂNG KỂ CHUYỆN

Với xã hội ngày càng phát triển, thị trường việc làm và lao động ngày càng có tính cạnh tranh cao hơn. Để nổi bật trong thị trường đó, bạn thật sự cần xây dựng cho mình một chiến lược để trở thành một “sản phẩm độc quyền” – duy nhất, ấn tượng, chân thật và đáng nhớ.

Vậy thì làm sao để xây dựng chiến lược đó?

Trong cuốn sách “Brain Rules”, nhà sinh học phân tử John Medina đã lý giải một yếu tố quyết định tại sao một số ứng viên luôn “nằm trong tầm ngắm” của nhà tuyển dụng trong khi số khác lại nằm trong danh sách bị loại. Đó là cảm xúc.

Nhà tuyển dụng luôn khăng khăng rằng quyết định của họ là hợp lý, dựa trên thực lực của thí sinh ứng tuyển, nhưng thật ra, ấn tượng và cảm xúc về thí sinh lại có ảnh hưởng không nhỏ. Cảm xúc là công cụ giúp chúng ta trở nên gắn kết hơn, đó cũng là thứ quyết định rằng trong mắt người ta, hình ảnh của bạn là tích cực hay tiêu cực. Và cách nhanh nhất để hướng mọi người đến mặt tích cực hơn của bạn trong suốt hành trình tuyển dụng là: kể câu chuyện của chính bạn, trong cả hồ sơ, thư giới thiệu và buổi phỏng vấn.

BẰNG VIỆC KỂ MỘT CÂU CHUYỆN ĐÚNG CÁCH, BẠN CÓ THỂ ĐỂ LẠI ẤN TƯỢNG TUYỆT VỜI CHO MỌI NGƯỜI VỀ BẠN.

Kỹ năng kể chuyện là phương pháp hữu hiệu trong việc truyền cảm hứng và thuyết phục mọi người. Trong khi đó, việc nêu lên quan điểm cá nhân mang tính “hô khẩu hiệu” hơn, còn đưa ra con số hay minh chứng cụ thể thì rất khó để mọi người ghi nhớ đến. Vậy thì tại sao không kết hợp tất cả để tạo nên một câu chuyện hoàn hảo? Câu chuyện đó sẽ chạm đến người nghe hơn và có thể sẽ thay đổi cách nhìn nhận của họ.

Điều đó có nghĩa là, mọi ứng viên đều có sức mạnh vô hình để điều khiển hành trình tuyển dụng của chính mình. Với một câu chuyện ý nghĩa, bạn đã để lại cho nhà tuyển dụng một bức chân dung hoàn mỹ và khó quên về bạn. Chỉ cần lên ý tưởng cho một câu chuyện về chính mình rồi truyền vào đó những thông điệp tích cực, bạn đã mang một món quà đến buổi phỏng vấn. Đó là một lượng hormone hạnh phúc “Dopamine” dành cho tất cả mọi người, giúp cho buổi phỏng vấn hôm ấy thật tuyệt. Như Medina đã đề cập trong cuốn sách của mình: “Dopamine thực sự có ích trong quá trình xử lý thông tin, nó tạo nên một tín hiệu báo động trong bộ não rằng “Hãy ghi nhớ những điều đó đi””.

Vậy làm sao để chuẩn bị một câu chuyện tuyệt vời cho những lần tuyển dụng tiếp theo của bạn? Dưới đây là 4 “bí quyết” giúp bạn có được sự chú ý của nhà tuyển dụng và vượt lên các ứng viên khác để có được công việc mong muốn.

LUÔN ĐẶT MÌNH VÀO VỊ TRÍ NGƯỜI NGHE.

Ngày nay, ở hầu hết các doanh nghiệp, hồ sơ của bạn không còn được xem xét thủ công như trước đây nữa. Thay vào đó, các công ty thường áp dụng một nền tảng trí tuệ nhân tạo (Hệ thống quản lý tuyển dụng Applicant Tracking System – ATS) để có thể lọc hồ sơ của rất nhiều ứng viên một cách nhanh chóng. Hệ thống này sẽ quét qua hồ sơ của bạn, dựa trên những từ khóa tương thích giữa hồ sơ của bạn với yêu cầu của công việc, chiếc máy này sẽ quyết định bạn có vượt qua được vòng này và đến với buổi phỏng vấn hay không. Vì vậy, đừng bao giờ chỉ viết một mẫu hồ sơ rồi đem đi nộp cho mọi công việc. Những kỹ năng và kinh nghiệm làm việc của bạn cần được “may đo” lại cho phù hợp với yêu cầu từ nhà tuyển dụng. Nhưng đừng cố “bịa” ra những thông tin không có thật nhé, bởi sau khi vượt qua vị giám khảo robot này thì chúng ta sẽ có buổi phỏng vấn “người thật việc thật” mà. Vì vậy, bạn cần phải thuyết phục được cả hai ban giám khảo này.

Dù là một sinh viên mới ra trường chưa có nhiều kinh nghiệm, hay là một “người thợ lành nghề” với kinh nghiệm lâu năm, nhiều người trong chúng ta thường cố gắng viết một bộ hồ sơ lê thê với tất cả những hoạt động và những dự án đã từng tham gia. Và sau đó, chúng ta sẽ chuẩn bị cho một buổi phỏng vấn hàng tiếng đồng hồ hay một email dài như sớ.

Nhưng mà, ai sẽ đủ kiên nhẫn để đọc hết những điều đó chứ? Liệu người nhận có nhớ được hết chuỗi thông tin dài dằng dặc mà bạn đề cập đến hay không? Không thể nào. Vậy nên, hãy từ bỏ suy nghĩ và chuẩn bị hồ sơ ứng tuyển của bạn ở góc nhìn của người tuyển dụng. Bạn cần chắt lọc, chỉ đưa vào hồ sơ khi nó thật sự phù hợp và chắc chắn rằng đó là những thông tin mà người tuyển dụng cần biết về bạn.

ĐỪNG ĐỂ CÂU CHUYỆN CHỈ LÀ MỘT CHUỖI SỰ KIỆN, ĐÓ LÀ BỨC CHÂN DUNG CỦA BẠN ĐẤY.

Bằng cách tìm hiểu qua LinkedIn, trang web của các công ty, các báo cáo thực tập hay qua những mối quan hệ của bạn, bạn có thể nắm được một số thông tin của người tuyển dụng và từ đó, kể về bản thân với các yếu tố mà họ đang mong muốn tìm kiếm.

Một điều quan trọng là, họ mong chờ ở ứng viên nhiều hơn là một danh sách các kỹ năng và kinh nghiệm. Mọi nhà tuyển dụng đều mong muốn có thể thu hút về doanh nghiệp của mình những nhân viên có cả kỹ năng cứng (liên quan đến chuyên môn của công việc) và kỹ năng mềm (kỹ năng giao tiếp, thích ứng, sáng tạo trong công việc…). Đừng làm lem luốc hồ sơ của bạn bằng những biệt ngữ hay từ ngữ không phù hợp nhé. Hãy thận trọng trong việc sử dụng ngôn từ và giọng điệu của bạn, nó sẽ một phần thể hiện phong cách làm việc của bạn đấy.

HÃY CHO CÂU CHUYỆN MỘT CHỦ ĐỀ, VÀ PHÁT TRIỂN CHỦ ĐỀ ĐÓ TRONG SUỐT HÀNH TRÌNH TUYỂN DỤNG CỦA BẠN.

Trước khi đến buổi phỏng vấn, hãy suy nghĩ về MỘT ấn tượng mà bạn muốn in thật sâu vào trí nhớ của “sếp tương lai”. Đó là điều bạn cảm thấy mình nổi trội nhất và hãy ưu tiên chuẩn bị kỹ càng để kể về nó nhé.

Trong kể chuyện, điều này được gọi là “ý tưởng lớn” và nó là nhân tố cốt yếu của mọi câu chuyện. Trong suốt quá trình tuyển dụng, ý tưởng lớn sẽ được khai thác và phát triển để tạo nên câu chuyện của bạn. Và tất nhiên, ý tưởng lớn đó phải chứa đừng mong muốn của nhà tuyển dụng: những gì bạn sẽ làm được cho công ty họ.

Hãy thử xem qua ví dụ này nhé. Bạn đang ứng tuyển cho một công việc liên quan đến marketing. Để xem nào, ý tưởng lớn của bạn sẽ là: “Tôi là một người luôn hướng tới sự cách tân và phát triển”. Vậy thì mọi dẫn chứng cho ý tưởng lớn này sẽ là lời giải thích cho việc sự sáng tạo của bạn sẽ mang lại gì cho doanh nghiệp. Chẳng hạn: “Tôi đã dẫn dắt một phòng marketing, chúng tôi đã tăng số lượt bấm vào xem quảng cáo lên 30%, và chỉ trong hai năm, lượng khách hàng đến với chúng tôi đã gấp đôi so với trước đó…”

Nếu bạn là sinh viên mới ra trường và bắt đầu chuẩn bị cho công việc tiếp theo của mình, có thể bạn đang trăn trở về việc tìm ý tưởng lớn cho câu chuyện. Có thể kinh nghiệm làm việc của bạn rất ít ỏi, nhưng hãy nhớ rằng, bạn đã có hơn 20 năm kinh nghiệm sống trên đời rồi đấy. Hãy nhớ lại những trải nghiệm thú vị của bạn, tìm ra một điều gì đó độc đáo, đặc trưng ở bạn và đầy đủ để miêu tả con người bạn. Ý tưởng này sẽ tạo nên một cốt truyện tuyệt vời cho câu chuyện về bạn là ai, bạn đã làm gì, bạn đã vượt qua những gì và bạn sẽ là người như thế nào trong công việc tương lai của mình.

CHỦ ĐỀ CỦA BẠN KHÔNG CHỈ GIÚP BẠN KIỂM SOÁT CÂU CHUYỆN CỦA MÌNH – NÓ CÒN LÀ CÔNG CỤ BẠN CÓ THỂ SỬ DỤNG ĐỂ TÁC ĐỘNG ĐẾN KÝ ỨC CỦA NHÀ TUYỂN DỤNG VỀ BẠN.

Ví dụ, giả sử bạn muốn tham gia vào tổ chức marketing đó, nhưng bạn chỉ mới tốt nghiệp đại học. Để bắt đầu, hãy giới thiệu chủ đề của bạn bằng cách nói điều gì đó như: “Tôi muốn nâng cao nhận thức về thương hiệu trên mạng xã hội”. Từ đó, hãy trích dẫn các ví dụ cụ thể từ tài khoản mạng xã hội cá nhân, các việc làm tức thời (one-off gigs), các kỳ thực tập hoặc dự án tại trường học của bạn. Bạn có thể mô tả cách bạn tăng lượng người theo dõi Tiktok lên 50% trong một năm và bạn rất hứng thú được giúp công ty XYZ đạt được điều tương tự. Hoặc bạn có thể chia sẻ cách bạn đã giúp bộ phận marketing ở kỳ thực tập trước tăng 25% số người đăng ký nhận bản tin chỉ trong 3 tháng.

Một lần nữa, tất cả những kinh nghiệm bạn đã nêu trong CV, thư xin việc, và trong buổi phỏng vấn nên trực tiếp gắn liền với chủ đề này. Chủ đề của bạn không chỉ để giúp bạn kiểm soát câu chuyện của mình – nó còn là một công cụ bạn có thể sử dụng để tác động đến ký ức của nhà tuyển dụng về bạn.

BỐI CẢNH! BỐI CẢNH! BỐI CẢNH!

Trong suốt quá trình tuyển dụng, bạn sẽ phải kể nhiều câu chuyện về bản thân và trải nghiệm của mình. Giống như tất cả những câu chuyện tuyệt vời khác, những trải nghiệm mà bạn nói sẽ cần bối cảnh rõ ràng để gây được tiếng vang với người nghe. Các chuyên gia kể chuyện gọi bối cảnh là “lý do” thúc đẩy cốt truyện của một câu chuyện. Nó cung cấp cho khán giả của bạn lý do để lắng nghe đến cuối cùng và hài lòng với kết quả của bạn.

Những người tìm việc thường mắc sai lầm khi bắt đầu bằng kết quả (Tôi đã quản lý một team trong công việc mùa hè. Tôi đã xây dựng một chiến dịch digital marketing trị giá 50.000. Tôi đã thực hiện kế hoạch giảm 25% chi phí cho chuỗi cung ứng của chúng tôi.) Đây là những điều tốt để đưa vào CV, và sẽ được đọc lướt qua và được dùng để đánh giá năng lực của bạn.

Tuy nhiên, trong thư xin việc và trong cuộc phỏng vấn, đây là cơ hội để bạn thực sự phát triển câu chuyện, để cá tính của bạn tỏa sáng và tạo sự khác biệt với tất cả các ứng viên khác. Bạn làm điều này thông qua ngữ cảnh.

Cho dù bạn mới bắt đầu hay đã có nhiều năm kinh nghiệm, bối cảnh thường được thiết lập thông qua ba yếu tố: khung cảnh, nhân vật và xung đột. Hãy phân tích các yếu tố này:

Khung cảnh: Nơi xảy ra sự kiện trong câu chuyện của bạn. Bạn đã tung ra một sản phẩm trong một công việc trước đây? Khung cảnh của bạn có thể là thị trường cho sản phẩm này.

Nhân vật: Những người liên quan và bị ảnh hưởng bởi sự cố trong câu chuyện của bạn. Bạn đang lãnh đạo một nhóm trong trường đại học hay quản lý một dự án quan trọng tại nơi làm việc? Bạn có đang làm việc với các nhà cung cấp, tình nguyện viên hoặc thực tập sinh không? Vẽ ra các nhân vật trong câu chuyện của bạn để làm cho câu chuyện (và bạn) được chân thực hơn.

Xung đột: Sự cố khiến bạn và các nhân vật khác trong câu chuyện phải hành động. Các bạn đã cố gắng giải quyết vấn đề gì cùng nhau? Có thể là doanh số bán hàng giảm mạnh hoặc thậm chí là một điều đơn giản như một quy trình vô tổ chức cần được tối ưu hóa. Nói ra xung đột là rất quan trọng vì nó tạo sự căng thẳng và tăng độ nguy hiểm. Hãy nghĩ như thế này: Điều gì làm cho anh hùng của một câu chuyện trở thành anh hùng? Cứu thế giới – hoặc giải quyết một xung đột nào đó.

Khi kể câu chuyện của mình, hãy làm cho bối cảnh gây ấn tượng sâu sắc để cho sếp hoặc đồng nghiệp tiềm năng của bạn có lý do để lắng nghe và hiểu rõ hơn cách bạn làm việc với người khác, tiếp cận các tình huống khó khăn và giải quyết vấn đề. Đây là cách tốt nhất để xây dựng sự uy tín của bạn.

HÃY LÀ ANH HÙNG. KẾT THÚC CÂU CHUYỆN VỚI MỘT KẾT QUẢ RÕ RÀNG.

Với bối cảnh này, bạn hy vọng đã cho đồng nghiệp hoặc người quản lý tiềm năng của mình một lý do để quan tâm đến kết quả câu chuyện của bạn. Và nếu bạn đã nghiên cứu kỹ về đối tượng của mình, bạn sẽ làm nổi bật những trải nghiệm phù hợp với họ.

Giờ thì đã đến lúc trở thành anh hùng và cho họ biết bạn đã giải quyết mâu thuẫn như thế nào. Đây là phần bạn có thể nêu những số liệu ấn tượng được liệt kê trong CV của mình, nhưng chi tiết hơn rất nhiều.

Ví dụ: CV của bạn có thể nói: “Đã tăng doanh số bán hàng lên 15% trong quý đầu tiên của năm tài chính.”

CUỐI CÙNG, KẾT QUẢ MÀ BẠN ĐANG ĐỀ XUẤT LÀ HÃY THUÊ BẠN.

Trong thư xin việc và trong cuộc phỏng vấn, bạn có thể mở rộng kết quả này thành một câu chuyện thú vị hơn nhiều: “Một trong những điểm mạnh của tôi là khả năng xoay chuyển chiến lược dưới áp lực (ý chính). Ví dụ: doanh số bán hàng của chúng tôi đã giảm mạnh trong quý cuối của năm tài chính này vì lệnh cấm du lịch do Covid-19 (xung đột). Để giải quyết vấn đề này, tôi bắt đầu suy nghĩ về những gì khách hàng (các nhân vật) thực sự cần ở chúng tôi trong thời gian này và cách chúng tôi có thể tập trung lại chiến lược của mình để phục vụ thị trường trong nước (khung cảnh) bằng các sản phẩm quốc nội. Nhóm của tôi (nhiều nhân vật hơn) đã làm được điều này bằng việc A, B và C. Kết quả là, chúng tôi không chỉ có thể góp phần cải thiện nền kinh tế địa phương trên toàn thế giới, chúng tôi còn tăng doanh số bán hàng của mình lên 15% trong quý đầu tiên của năm tiếp theo (kết quả).”

Bạn có thấy sự khác biệt không? Một phiên bản chỉ nêu một sự thật, trong khi phiên bản còn lại phân tích cách bạn giải quyết vấn đề và giá trị cá nhân của bạn: đóng góp cho cộng đồng địa phương và cải thiện đời sống của khách hàng trong khoảng thời gian đầy khó khăn.

Bạn hiểu vấn đề rồi đấy.

Cuối cùng thì kết quả mà bạn đang đề xuất là thuê bạn. Các công cụ trên kết hợp lại có thể giúp bạn tác động đến bất kỳ nhà tuyển dụng nào để đạt được điều đó.

KHẢ NĂNG KỂ CHUYỆN LÀ BẨM SINH Ở TẤT CẢ CHÚNG TA.

Nếu bạn đang cảm thấy lo sợ, hãy nhớ rằng bạn đã là một người kể chuyện bậc thầy. Mỗi khi một thành viên trong gia đình hỏi bạn thế nào và bạn trả lời một cách chân thành, bạn đang kể một câu chuyện. Mỗi khi bạn nhớ lại một kỷ niệm vui trong cuộc trò chuyện với bạn bè, bạn đang kể một câu chuyện. Mỗi khi bạn “tán gẫu” với đồng nghiệp, có lẽ bạn cũng đang kể một câu chuyện nào đó – về cuộc sống của bạn, về sức khỏe tinh thần của bạn, hoặc thậm chí về kế hoạch cuối tuần của bạn.

Bây giờ, hãy áp dụng kỹ năng đặc biệt này vào đơn xin việc và xem điều gì sẽ xảy ra. Chúng tôi hứa là nó sẽ tốt.

Bạn sẽ làm được.

Người dịch: Hoài Thương, Khánh Vân
Link bài gốc: https://hbr.org/2021/05/the-key-to-landing-your-next-job-storytelling

BÀI PHÁT BIỂU CỦA THỦ TƯỚNG ĐỨC TẠI ĐẠI HỌC HARVARD NĂM 2019

Cảm ơn Quý vị đã có mặt ngày hôm nay. Tôi xin phép bắt đầu bài phát biểu của mình.

Thưa Ngài Hiệu trưởng Bacow, đại diện các tập đoàn, thành viên Hội đồng quản trị, Hội cựu sinh viên,  các Khoa, Quý phụ huynh và các tân cử nhân:

Hôm nay là ngày tràn đầy niềm vui và rất nhiều lời chúc mừng. Một ngày dành riêng cho các bạn. Tôi rất hân hạnh khi có mặt ở đây và kể cho các bạn nghe về những trải nghiệm của riêng mình. Buổi lễ này đánh dấu sự kết thúc của một chương nhọc nhằn và có lẽ cũng khá khó khăn trong cuộc đời các bạn. Ngay lúc này, cánh cửa cho một chương mới đầy ly kỳ và cảm hứng đang mở ra.

Nhà văn người Đức Hermann Hesse đã có những lời tuyệt vời dành cho khoảnh khắc như vậy trong cuộc sống. Sau đây tôi xin phép trích dẫn lời của ông ấy bằng chính lối diễn đạt của mình. Hermann Hesse đã viết:

Trong mọi sự khởi đầu đều ẩn chứa một năng lực kỳ diệu

Để bảo vệ chúng ta và dẫn lỗi chúng ta trong cuộc sống.

Những lời này của Hermann Hesse đã truyền cảm hứng cho tôi khi tôi lấy được tấm bằng vật lý ở tuổi 24 vào năm 1978.

Đó là thời kỳ Chiến tranh Lạnh, khi thế giới bị chia thành Đông và Tây. Tôi lớn lên tại Đông Đức, chính xác hơn là Cộng hòa Dân chủ (CHDC) Đức. Thời ấy, phần đất này còn chưa được tự do và phải chịu sự kìm hãm của chế độ độc tài.

Người dân bị nhà nước áp bức và cai quản. Các thành phần phản đối chính trị bị đàn áp. Chính quyền CHDC Đức e sợ rằng người dân sẽ chạy trốn để tìm sự tự do đích thực. Vì lý do đó một bức tường bằng bê tông cốt thép – Bức tường Berlin được dựng lên. Bất cứ ai cố gắng vượt qua bức tường đều bị bắt hoặc thậm chí là bắn chết. Bức tường ngăn cách Berlin đã chia cắt một dân tộc và rất nhiều gia đình bị ly tán. Gia đình tôi cũng không phải ngoại lệ.

Công việc đầu tiên của tôi sau khi tốt nghiệp là một nhà vật lý ở Đông Berlin tại Học viện Khoa học. Tôi sống gần Bức tường Berlin. Tôi đi ngang qua bức tường mỗi ngày trên con đường từ viện về nhà. Phía sau bức tường là một Tây Berlin tự do. Ngày qua ngày, khi tôi đối diện với chính bức tường, tôi đều quay mặt đi vào giây phút cuối cùng và lặng lẽ đi về phía căn hộ của mình. Ngày nào tôi cũng thờ ơ với sự tự do trong những giây phút cuối trên đường về nhà. Không biết đã bao nhiêu lần, tôi tưởng tôi đã không thể chịu đựng được cái cảm giác bức bối bên trong mình.

Tôi không phải là kẻ chống đối. Tôi không chạy lên và đập vào tường, nhưng tôi cũng không phủ nhận sự tồn tại của nó, vì tôi không muốn tự dối mình. Bức tường Berlin giới hạn những lựa chọn của tôi. Nó đã thực sự cản đường tôi. Nhưng có một điều mà bức tường này không thể làm được trong ngần ấy năm: Nó không thể áp đặt giới hạn cho những suy nghĩ bên trong tôi. Tính cách của tôi, trí tưởng tượng, những mong muốn – đó là những điều không thể bị giới hạn bởi sự cấm đoán và ép buộc.

Sau đó vào năm 1989, trên khắp châu Âu, ý chí chung về tự do đã giải phóng sức mạnh phi thường . Hàng trăm nghìn người đã xuống đường ở Ba Lan, Hungary, Tiệp Khắc và cả ở CHDC Đức để biểu tình và đánh sập Bức tường Berlin. Điều mà nhiều người  thậm chí ngay chính bản thân tôi đã không nghĩ là có thể đã trở thành hiện thực. Ở nơi từng có bức tường tối ngăn cách, một cánh cửa đột nhiên mở ra. Khoảnh khắc tôi mong chờ cũng đã đến, để tôi bước qua cánh cửa tự do. Tôi không còn phải khước từ sự tự do vào bất kì phút giây nào nữa. Tôi có thể vượt qua rào cản và hòa mình vào thế giới rộng lớn, vĩ đại.

Th tướng Đc Angela Merkel phát biu ti ĐH Harvard năm 2019 (ngun: https://news.harvard.edu/gazette/story/2019/05/at-harvard-commencement-merkel-tells-grads-break-the-walls-that-hem-you-in/)

30 năm trước, trong những tháng bị ngăn cách với tự do, cá nhân tôi đã nghiệm ra rằng không có gì là mãi mãi. Các bạn tân cử nhân thân mến, trải nghiệm này là điều đầu tiên tôi muốn chia sẻ với các bạn hôm nay vì tương lai của các bạn: [1] Những gì có vẻ đã được ấn định và không thể thay đổi trên thực tế có thể thay đổi.

Và đối với cả những vấn đề lớn và nhỏ, mọi sự thay đổi đều bắt đầu từ tâm trí. Thế hệ cha mẹ tôi đã phải học điều này một cách đau đớn. Cha và mẹ tôi sinh năm 1926 và 1928. Khi họ ở độ tuổi như hầu hết các bạn ở đây hôm nay, là lúc sự rạn nứt của nền văn minh là Shoa [Holocaust] và Chiến tranh thế giới thứ hai vừa kết thúc. Nước Đức của tôi đã đem lại những đau khổ không thể tưởng tượng được cho châu Âu và thế giới. Làm thế nào mà người chiến thắng và kẻ bại trận vẫn không thể hòa giải trong nhiều năm? Nhưng thay vào đó, châu Âu đã trải qua hàng thế kỷ của xung đột. Kết quả đạt được là một trật tự hòa bình dựa trên các giá trị chung chứ không phải sức mạnh quốc gia.

Bất chấp tất cả các cuộc thảo luận và thất bại tạm thời, tôi tin chắc rằng người châu Âu chúng tôi đã đoàn kết vì những điều tốt đẹp hơn. Và mối quan hệ giữa người Đức và người Mỹ đã chỉ ra rằng những mối quan hệ thù địch đều có thể trở thành đồng minh.

Chính George Marshall đã góp phần không nhỏ vào việc này với một kế hoạch mà ông đã tuyên bố tại chính nơi này trong một bài diễn văn năm 1947. Quan hệ đối tác xuyên Đại Tây Dương với các giá trị dân chủ và nhân quyền đã mang lại cho chúng ta một thời kỳ hòa bình và thịnh vượng kéo dài hơn suốt 70 năm, và từ đó đôi bên đều có lợi. Và ngày hôm nay thì sao? Sẽ không lâu nữa trước khi các nhà lãnh đạo ở thế hệ tôi không còn là chủ đề của khóa học “Exercising Leadership”- “Kỹ năng lãnh đạo”, thay vào đó sẽ là tiêu đề của “Leadership in History” – “Lãnh đạo trong lịch sử”.

Những tân cử nhân Harvard khóa 2019 thân mến: Thế hệ của bạn sẽ phải đối mặt với những thách thức của thế kỷ 21 trong những thập kỷ tới. Các bạn là một trong số những người sẽ dẫn dắt thế giới vào tương lai. Bảo hộ mậu dịch và xung đột thương mại gây ra sự biến động  cho thương mại thế giới tự do và vì thế cũng là nền tảng cho sự thịnh vượng của chúng ta. Sự chuyển đổi kỹ thuật số ảnh hưởng đến tất cả các lĩnh vực trong cuộc sống. Chiến tranh và khủng bố dẫn đến việc di dân và di cư bắt buộc. Biến đổi khí hậu đe dọa tài nguyên thiên nhiên của hành tinh. Điều trên và những cuộc khủng hoảng là do con người gây ra. Vì vậy, chúng ta cần phải có những hành động cấp bách để thực sự giải quyết những thách thức này đối với nhân loại.. Nhưng mọi người phải làm tròn nghĩa vụ làm người của mình, nói đến đây tôi cũng tự phê bình bản thân mình vì tôi đã có thể làm tốt hơn. Vì vậy, tôi sẽ làm mọi thứ trong khả năng của mình để đảm bảo rằng nước Đức, sẽ đạt được mục tiêu trung hòa khí hậu vào năm 2050.

Sự thay đổi cho những điều tốt đẹp sẽ xảy ra nếu chúng ta cùng nhau giải quyết. Sự cô đơn không giúp chúng ta thành công. Và đây là điều thứ hai tôi dành cho bạn: [2] Hơn bao giờ hết, chúng ta phải suy nghĩ và hành động một cách đa phương thay vì đơn phương, và toàn cầu thay vì chỉ mỗi cho tổ quốc, quốc tế hơn là chủ nghĩa biệt lập. Tóm lại: hãy cùng nhau thay vì một mình.

Các bạn, những tân cử nhân thân mến, trong tương lai, sẽ có những cơ hội hoàn toàn khác so với thế hệ của tôi. Xét cho cùng, điện thoại thông minh của các bạn có thể có sức mạnh tính toán vượt trội hơn nhiều so với máy tính IBM phiên bản sao chép của Liên Xô, thiết bị mà tôi đã được phép sử dụng cho luận văn của mình vào năm 1986 tại CHDC Đức.

Ngày nay, chúng ta đang sử dụng trí thông minh nhân tạo [AI] để quét hàng triệu hình ảnh về các triệu chứng của bệnh – để chẩn đoán ung thư tốt hơn. Trong tương lai,  những robot có sự thấu cảm và cảm xúc có thể giúp bác sĩ và người chăm sóc tập trung vào nhu cầu cá nhân của từng bệnh nhân. Chúng ta không thể đoán trước ứng dụng nào sẽ khả thi, nhưng [AI] sẽ có những cơ hội phát triển phi thường.

Khóa tân cử nhân 2019 thân mến, về cơ bản sẽ tùy thuộc vào cách chúng ta tận dụng những cơ hội này như thế nào. Chính bạn sẽ là người quyết định cách chúng ta làm việc, giao tiếp, di chuyển, và thậm chí phát triển cuộc sống của chúng ta như thế nào.

Với tư cách là Thủ tướng Liên bang, tôi thường phải tự hỏi bản thân: Tôi có đang làm đúng không? Tôi đang làm điều gì đó vì nó đúng, hay chỉ vì nó có thể? Bạn nên tự hỏi mình điều đó lặp đi lặp lại – và đó là điều thứ ba của tôi dành cho bạn ngày hôm nay: [3] Chúng ta đặt ra các quy tắc của công nghệ hay công nghệ quyết định cách chúng ta tương tác? Chúng ta có tập trung vào con người trong phẩm giá của họ ở tất cả các khía cạnh của nó, hay chúng ta chỉ nhìn thấy khách hàng, nguồn dữ liệu, đối tượng giám sát?

Đây là những câu hỏi khó. Tôi đã nhận ra rằng, những câu hỏi khó có thể tìm ra những câu trả lời nếu chúng ta luôn nhìn thế giới qua con mắt của người khác; nếu chúng ta tôn trọng lịch sử, truyền thống, tôn giáo và bản sắc của mọi người xung quanh; nếu chúng ta kiên quyết giữ vững những giá trị bất kiên định của mình và hành động có tính hợp lý; và nếu chúng ta không phải lúc nào cũng làm theo những thôi thúc ban đầu của bản thân, ngay cả với tất cả áp lực để đưa ra quyết định nhanh chóng, mà thay vào đó dừng lại một chút, trầm tư, suy ngẫm, nghỉ ngơi.

Phải thừa nhận rằng cần phải có  một trái tim quả cảm để làm được những điều trên. Hơn bao giờ hết, nó đòi hỏi sự trung thực với người khác và – có lẽ quan trọng nhất – với chính bản thân chúng ta. Còn nơi nào tốt hơn ngay tại đây, tại nơi này để bắt đầu, nơi có rất nhiều người trẻ từ khắp nơi trên thế giới đang học hỏi, nghiên cứu và thảo luận về những câu hỏi của thời đại theo phương châm của Sự thật. Điều này ngụ ý rằng chúng tôi không mô tả dối trá là sự thật và sự thật là dối trá. Đồng thời, điều này cũng ngụ ý rằng chúng ta không chấp nhận bất bình là điều bình thường đối với chúng ta.

Nhưng điều gì, có thể ngăn cản bạn và điều gì có thể cản trở chúng ta làm điều đó? Một lần nữa, có những bức tường hiện hữu trong tâm trí chúng ta, những bức tường của sự ngu dốt và lòng hẹp hòi. Chúng tồn tại giữa các thành viên trong một gia đình cũng như giữa các nhóm xã hội, giữa những người có màu da, dân tộc, tôn giáo khác nhau. Tôi muốn chúng ta phá bỏ những bức tường này – những bức tường nhiều lần ngăn cách chúng ta tuyên truyền về thế giới mà chúng ta muốn sống cùng nhau.

Thành công hay không là tùy thuộc vào chúng ta. Vì vậy, các bạn thân mến, điều thứ tư tôi muốn nói là: [4] Không có gì là lẽ đương nhiên. Quyền tự do cá nhân của chúng ta không phải là hiển nhiên; dân chủ không tự thể hiện rõ; không hòa bình lẫn thịnh vượng.

Nhưng nếu chúng ta phá bỏ những bức tường ngăn cách giữa chính chúng ta, và nếu chúng ta mở rộng cánh cửa và đón nhận những khởi đầu mới, thì điều gì cũng có thể xảy ra. Tường có thể sụp đổ. Các chế độ độc tài có thể biến mất. Chúng ta có thể ngăn chặn sự nóng lên toàn cầu. Chúng ta có thể đánh bại cơn đói. Chúng ta có thể diệt trừ bệnh tật. Chúng ta có thể giúp mọi người, đặc biệt là trẻ em gái, được tiếp cận với giáo dục. Chúng ta có thể chống lại các nguồn cơn của sự xâm chiếm và di cư. Chúng ta có thể làm tất cả những điều này.

Vì vậy, trước tiên chúng ta đừng hỏi điều gì là sai hoặc điều gì đã luôn xảy ra. Trước tiên, chúng ta hãy hỏi điều gì là có thể và tìm kiếm điều gì đó trước đây chưa bao giờ được thực hiện.

Đó là những lời chính xác mà tôi đã nói vào năm 2005 trong tuyên bố đầu tiên của chính phủ, với tư cách là Thủ tướng Liên bang mới được bầu của Cộng hòa Liên bang Đức, với tư cách là người phụ nữ đầu tiên giữ chức vụ này, tại Hạ viện Đức, Quốc hội Đức.

Và chính bằng những lời này, tôi muốn chia sẻ với bạn điều thứ năm của tôi: [5] Chúng ta hãy tự ngạc nhiên với những gì có thể – chúng ta hãy tự ngạc nhiên với những gì chúng ta có thể làm.

Trong cuộc đời của tôi, chính sự sụp đổ của Bức tường Berlin gần 30 năm trước đã cho phép tôi bước ra thế giới. Vào thời điểm đó, tôi đã gác lại công việc của mình với tư cách là một nhà khoa học và dấn thân vào chính trị. Đó là một khoảng thời gian thú vị và kỳ diệu, cũng như cuộc sống của bạn sẽ thú vị và đầy phép màu. Nhưng tôi cũng có những lúc nghi ngờ và lo lắng. Tất cả chúng ta đều biết điều gì ở phía sau mình, nhưng không biết điều gì có thể xảy ra ở phía trước. Có lẽ bạn đang cảm thấy một chút như vậy giữa tất cả niềm vui của ngày hôm nay.

Do đó, với điều thứ sáu, tôi có thể nói với bạn điều này: [6] Thời điểm bạn có những thành tựu nổi bật cũng là lúc rủi ro ập đến. Buông bỏ cái cũ là một phần của sự khởi đầu mới. Không có sự bắt đầu nào mà không có kết thúc, không tồn tại ngày không có màn đêm, không có sự sống nào mà không có cái chết. Toàn bộ cuộc sống của chúng ta bao gồm sự khác biệt này, không gian giữa khởi đầu và kết thúc. Những gì ở giữa, chúng ta gọi là cuộc sống và trải nghiệm.

Tôi tin rằng chúng ta phải luôn chuẩn bị để kết thúc mọi thứ để cảm nhận sự kỳ diệu của sự khởi đầu và tận dụng tối đa cơ hội của mình. Đó là kinh nghiệm của tôi ở trường đại học, trong khoa học; và đó là những gì tôi đã trải qua trong lĩnh vực chính trị. Và ai biết được điều gì dành cho tôi sau cuộc đời là một chính trị gia? Nó hoàn toàn mở. Chỉ có một điều rõ ràng: Nó sẽ lần nữa là một cái gì đó khác và một cái gì đó mới.

Đó là lý do tại sao tôi muốn để lại điều ước này với bạn: [1] Hãy phá bỏ những bức tường của sự ngu dốt và lòng hẹp hòi, vì không có gì là tuyệt đối cả.

Sáu điều cần nhớ là:

[2] Cùng hành động vì lợi ích của một thế giới toàn cầu đa phương.

[3] Hãy tự hỏi bản thân: Tôi đang làm điều gì đó vì nó đúng hay đơn giản là vì nó có thể?

[4] Đừng quên rằng tự do không bao giờ là thứ có thể được coi là lẽ dĩ nhiên.

[5] Làm bản thân ngạc nhiên với những gì có thể.

[6] Hãy nhớ rằng sự cởi mở luôn đi kèm với rủi ro. Buông bỏ cái cũ là một phần của sự khởi đầu mới.

Và trên tất cả, không có gì có thể được coi là điều đương nhiên có sẵn; mọi thứ đều có thể.

Cảm ơn các bạn!

Bài viết gốc: https://www.americanrhetoric.com/speeches/angelamerkelharvardcommencementenglish.htm

Người dịch: Thảo Lưu

LUẬN VĂN LÀ CẨM NANG CUỘC SỐNG

Quyển sách “Cách viết luận văn” (How to Write a Thesis) của tác giả Umberto Eco được xuất hiện lần đầu tiên trên kệ sách nước Ý vào năm 1977. Đối với Eco – một triết gia và tiểu thuyết gia khôi hài nổi tiếng với những công trình về ký hiệu học, có một lý do rất thực tế để viết quyển sách này. Cho đến năm 1999, luận văn về nghiên cứu gốc được yêu cầu đối với mọi học sinh đang theo học loại bằng tương đương bằng cử nhân của Ý. Việc tập hợp những suy nghĩ của ông ấy về luận văn sẽ giúp ông ấy thoát khỏi cảnh thuật đi thuật lại những lời khuyên đó mỗi năm cho học sinh. Kể từ khi được xuất bản, “Cách viết luận văn” đã trải qua 23 lần tái bản tại Ý và được dịch ra ít nhất 7 ngôn ngữ. Hiện nay, chúng ta chỉ có thể tìm thấy ấn bản tiếng Anh đầu tiên của cuốn sách này, được dịch bởi Caterina Mongiat Farina và Geoff Farina.

Chúng ta đã tồn tại trong thế giới nói tiếng Anh 37 năm mà không có quyển sách này. Vậy tại sao bây giờ lại cần bận tâm đến nó? Thực ra, Eco viết quyển sách về viết luận văn này trước khi có sự ra đời và phát triển rộng rãi của trình soạn thảo văn bản và Internet. Quyển sách có những đoạn văn dài dành cho các công nghệ kỳ lạ như thẻ ghi chú và sổ địa chỉ, các chiến lược thận trọng để khắc phục những hạn chế của thư viện địa phương. Thế nhưng, sức hấp dẫn lâu dài của quyển sách – lý do nó có thể thu hút những người mà cuộc đời họ không có nhu cầu viết bất cứ thứ gì dài hơn một email – hầu như không liên quan đến sự khắc nghiệt của các yêu cầu của chương trình cử nhân danh dự.Thay vào đó, trong quyển sách khoa trương và hài hước của Eco, luận văn đại diện cho một quá trình tự nhận thức kỳ diệu, một cách tương tác cẩn thận và đầy tò mò với thế giới mà không nên kết thúc ở những năm đầu tuổi đôi mươi. Eco báo trước: “Luận văn của bạn như mối tình đầu, sẽ rất khó quên.” Bằng cách nắm vững những yêu cầu và quy định của kiểu luận văn cũ kỹ, Eco say mê chứng minh rằng chúng ta được trang bị cho một thế giới bên ngoài chúng ta – thế giới của những ý tưởng, triết lý và các cuộc tranh luận.

Luận văn đại diện cho một quá trình tự nhận thức kỳ diệu, một cách tương tác cẩn thận và đầy tò mò với thế giới.  “Luận văn của bạn như mối tình đầu, sẽ rất khó quên.” – Umberto Eco.

Sự nghiệp của Eco đã được định nghĩa bằng khát khao chia sẻ những mối quan tâm hiếm hoi của giới học thuật với cộng đồng độc giả rộng rãi hơn. Ông đã viết một cuốn tiểu thuyết đưa ra lý thuyết văn học (“Tên của hoa hồng” – “The Name of the Rose”) và một cuốn sách dành cho thiếu nhi về các nguyên tử nhất tâm phản đối số phận của chúng như những cỗ máy chiến tranh (“Quả bom và vị tướng” – “The Bomb and the General”). “Cách viết luận văn” được khơi dậy bởi mong muốn trang bị cho những sinh viên có khát khao và sự tôn trọng đối với quá trình viết luận văn các công cụ để tạo ra một bài viết chặt chẽ và ý nghĩa. Eco đã viết ngay phần đầu của quyển sách: “Một xã hội công bằng hơn” là nơi mà bất kỳ ai có “khát vọng thật sự” sẽ được Nhà nước hỗ trợ, không phụ thuộc vào xuất thân hay đặc điểm của họ. Xã hội của chúng ta không hoàn toàn hoạt động như vậy. Chính những sinh viên có đặc quyền, những người được hưởng sự đào tạo tốt nhất hiện có, có xu hướng bắt đầu và sau đó dễ dàng vượt qua quá trình làm luận văn.

Eco hướng dẫn sinh viên những mánh khóe và phần thưởng của nghiên cứu bền vững, những sắc thái của việc phác thảo, các hệ thống khác nhau để thu thập và đối chiếu các ghi chú nghiên cứu của một ai đó, làm thế nào nếu – mỗi lời kêu gọi “luận văn như mối tình đầu” của Eco – bạn sợ rằng ai đó đã thực hiện những động thái này trước bạn. Có những chiến lược tổng quan để đưa ra “trung tâm” và “ngoại vi” của dự án cũng như những khía cạnh triết học về tính độc đáo và sự ghi nhận tác giả. Một lời khuyên thông thái của Eco: “Hãy làm việc với một tác giả đương đại như thể anh ta cổ đại, và một tác giả cổ đại như thể anh ta đương đại, bạn sẽ có hứng thú hơn và viết luận văn tốt hơn.” Các đề xuất khác có thể khiến sinh viên ngày nay cho là lạc hậu, chẳng hạn như ý tưởng lạ thường về dùng sổ địa chỉ để ghi lại các nguồn của một người.

Tuy nhiên, vẫn có những cách tiếp cận kiểu cũ nhưng có vẻ hữu ích hơn bao giờ hết: ví dụ, ông ấy gợi ý rằng có thể khám phá quỹ đạo tiềm năng của một dự án bằng một hệ thống các thẻ danh mục có thể sắp xếp được. Những điểm quan trọng như vậy đã khiến “Cách viết luận văn” giống như một cẩm nang hướng dẫn xác định trung tâm của một người trong thời đại bùng nổ thông tin đến chóng mặt. Hãy xem xét lời cảnh báo của Eco đối với “bằng chứng ngoại phạm của các bản sao”: “Sinh viên tạo ra hàng trăm bản sao và mang chúng về nhà, và công việc này khiến anh ta nghĩ  rằng mình đang sở hữu tác phẩm. Sự sở hữu này giải thoát sinh viên khỏi việc thực sự đọc chúng. Loại tích lũy chóng mặt này, một chủ nghĩa tư bản kiểu mới về thông tin, xảy ra với rất nhiều người.” Ngày nay, nhiều người trong chúng ta trải qua giai đoạn tăng tốc của điều này, chúng ta dễ dàng đánh dấu các liên kết hoặc lưu các bài báo vào Instapaper, thỏa mãn cơn nghiện tích trữ thông tin, không biết liệu chúng ta có bao giờ thực sự xử lý chúng hay không. (Giải pháp không hoàn toàn hữu ích của Eco: đọc mọi thứ càng sớm càng tốt.)

Chúng ta dễ dàng đánh dấu các liên kết hoặc lưu các bài báo vào Instapaper, thỏa mãn cơn nghiện tích trữ thông tin, không biết liệu chúng ta có bao giờ thực sự xử lý chúng hay không.

Nhưng khía cạnh hấp dẫn nhất trong cuốn sách của Eco là cách ông ấy hình dung về một cộng đồng bắt nguồn từ bất kỳ nỗ lực trí tuệ trung thực nào — những cuộc trò chuyện xuyên thời gian và không gian, vượt qua cả độ tuổi hoặc thứ bậc, trên tinh thần trò chuyện tự do, dân chủ mà bạn tham gia. Ông cảnh báo các sinh viên không nên đánh mất bản thân trong cái hố của sự tự luyến: bạn không phải là một “thiên tài bị lừa dối” đơn giản bởi vì ai đó tình cờ lại có cùng một bộ câu hỏi nghiên cứu. “Bạn phải vượt qua sự nhút nhát và trò chuyện với người thủ thư,”ông ấy viết, “bởi vì những lời khuyên đáng tin cậy của anh ấy có thể giúp bạn tiết kiệm rất nhiều thời gian. Bạn phải nghĩ rằng người thủ thư (nếu không phải làm việc quá sức hoặc rối loạn thần kinh) sẽ hạnh phúc khi anh ta có thể chứng minh được hai điều: chất lượng trí nhớ, sự uyên bác của anh ta và sự phong phú của thư viện, đặc biệt ở những thư viện nhỏ. Thư viện càng bị cô lập và không được xem trọng, người thủ thư càng cảm thấy buồn phiền vì nó bị đánh giá thấp.”

Eco đưa ra một loạt những kinh nghiệm và nỗi lo lắng cơ bản quen thuộc với bất kỳ ai đã từng viết luận văn, từ việc tìm kiếm một người cố vấn (“Làm thế nào để tránh bị cố vấn của bạn lợi dụng” – How to Avoid Being Exploited By Your Advisor) đến việc chiến đấu với sự thiếu tự tin. Cuối cùng thì quá trình và những khó khăn sẽ khiến luận văn trở thành một kinh nghiệm. Khi mọi thứ khác mà bạn đã học ở trường đại học đã là quá khứ – khi bạn vô tình nhìn thấy một cuốn sổ cũ và tự hỏi mình đã dành toàn bộ thời gian để làm gì, vì bạn không có hồi ức nào về một cuộc hội thảo về chủ nghĩa hậu hiện đại vào năm cuối – thì luận văn  vẫn còn đó và nó cung cấp nền tảng học thuật đã được thành thạo, và đến hàng thập kỷ sau vẫn tiếp tục cho phép các quan sát trong phòng bar về các tác phẩm cuối sự nghiệp của William Faulkner hoặc hiệu ứng Hotelling. (Tiết lộ chi tiết: Tôi nghi ngờ rằng không một ai trên Trái đất có thể hiểu rõ hơn tôi về bộ phim Gánh nặng của người da trắng (White Man’s Burden) do John Travolta thủ vai chính, bởi vì tôi đã dành cả một mùa xuân Berkeley bình dị để nghiên cứu những bộ phim khủng khiếp về chủng tộc.)

Trong lời nói đầu của mình về quyển sách của Eco, học giả Francesco Erspamer tranh cãi rằng “Cách viết luận văn” tiếp tục gây được tiếng vang với độc giả vì nó nằm ở “bản chất của khoa học nhân văn”. Chắc chắn có lý do để tin rằng cuộc khủng hoảng hiện nay của nhân loại một phần là do sự kém cỏi của họ trong việc giải thích và biện minh cho bản thân. Khi các nhà phê bình tiếp tục công kích chi phí quá cao và sự vô dụng có thể có của trường đại học — và vào thời điểm mà “một bài học dài” chỉ mất hơn vài phút để đọc lướt qua — thật dễ hiểu khi nói dành một phần nhỏ tuổi đôi mươi sôi nổi để viết một luận văn có vẻ lãng phí thời gian, kỳ lạ, thậm chí có thể ích kỷ. Và khi giáo dục đại học tiếp tục uốn cong theo logic của tiêu dùng và các kỹ năng thị trường, thì việc theo đuổi kiến ​​thức chỉ vì giá trị của nó nghe thật nhảm nhí. Ngay cả từ quan điểm của bộ máy hành chính đại học, luận văn chủ yếu chỉ là một phương thức đánh giá khác, một tiêu chuẩn đánh giá kết quả học tập của học sinh dễ đọc và có thể định lượng được. Đó cũng là một thông báo tuyệt vời dành cho các phụ huynh rằng con của họ là sinh viên năm cuối đã học được và đạt được điều gì đó.

Nhưng “Cách viết luận văn” có nhiều thứ hơn là sự theo đuổi nhàn nhã của sinh viên đại học. Sổ tay hướng dẫn viết và nghiên cứu như “Các yếu tố của phong cách” (The Elements of Style), “Nghề nghiên cứu” (The Craft of Research) và Turabian cung cấp cái nhìn về phiên bản tốt nhất của chúng ta. Chúng rất chính xác và đầy đủ, có đầy đủ các giao thức và tiêu chuẩn có thể có vẻ giả tạo, thậm chí là kỳ lạ. Thừa nhận những quy tắc này, Eco lập luận, cho phép một người bình thường bước vào một vũ trụ tranh luận và thảo luận thực sự. Vậy thì “Cách viết luận văn” không chỉ là việc đáp ứng yêu cầu về bằng cấp. Nó cũng là về sự khác biệt đầy hấp dẫn và cố gắng thực hiện một dự án dường như là không thể, tính toán một cách khiêm tốn với “kiến thức mà bất kỳ ai cũng có thể dạy chúng ta điều gì đó”. Nó mô phỏng một kiểu tự hiện thực hóa bản thân, một niềm tin vào sự toàn vẹn của tiếng nói của bản thân.

“Cách viết luận văn” không chỉ là việc đáp ứng yêu cầu về bằng cấp. Nó cũng là về sự khác biệt đầy hấp dẫn và cố gắng thực hiện một dự án dường như là không thể, tính toán một cách khiêm tốn với “kiến thức mà bất kỳ ai cũng có thể dạy chúng ta điều gì đó”.

 

Một luận văn đại diện cho một khoản đầu tư với lợi tức không chắc chắn, chủ yếu là do các khía cạnh quan trọng nhất của nó phải dựa trên quá trình. Có thể đó là lần cuối cùng những ý tưởng liều lĩnh nhất của bạn sẽ được xem xét một cách nghiêm túc. Mọi người đều xứng đáng được cảm thấy như vậy. Điều này đặc biệt đúng với những trường đại học có số lượng ít phụ nữ, sinh viên thế hệ đầu tiên trong gia đình và sinh viên da màu theo đuổi công việc luận văn không bắt buộc. Đối với những sinh viên này, một phần của thử thách là nghiêm túc yêu cầu một sự cố vấn chưa từng có và có khả năng thay đổi tương lai.

Việc Eco gợi lên một “xã hội công bằng” là rất đáng suy ngẫm. Chúng ta thậm chí có thể nghĩ về luận điểm này, như Eco hình dung nó, giống một phiên bản chính thức của sự cởi mở, quan tâm, nghiêm khắc và nhiệt huyết mà chúng ta nên chào đón mỗi ngày mới. Đó là sự cam kết của bản thân với một nhiệm vụ có vẻ to lớn và bất khả thi. Cuối cùng, bạn sẽ không nhớ gì nhiều ngoài những đêm thức trắng cuối cùng đó, những câu đùa nội bộ vụng về làm giảm giá trị của một bản ghi nhận mà chắc chỉ có bốn người đọc, một bức ảnh ngượng nghịu, đầy lúng túng với cố vấn của bạn khi tốt nghiệp. Tất cả những gì còn lại có thể là cảm giác giao luận án của bạn cho ai đó trong văn phòng bộ môn và sau đó tận hưởng một buổi chiều mùa hè. Sẽ rất khó để quên.