CÔNG DÂN TOÀN CẦU – PHẦN 2

CÔNG DÂN TOÀN CẦU – PHẦN 2

By lien le

Chúng tôi đã chia sẻ cho các bạn một số định nghĩa và ý nghĩa của việc trở thành một Công Dân Toàn Cầu – là người ý thức về thế giới rộng lớn hơn và có ý thức về vai trò của mình. Từ đó, sẵn sàng hành động để tạo ra một nơi công bằng và bền vững hơn. [1]

Vậy một Công Dân Toàn Cầu không có nghĩa là một người đã từng đi năm châu bốn bể, có một cuốn hộ chiếu dày đặc những con dấu, cũng không phải một người “sính ngoại”. Tuy nhiên, đó là những phẩm chất nên có.

Đến với phần 2 này, chúng mình sẽ cùng nhau tìm hiểu cách để trở thành một Công Dân Toàn Cầu.

Trước hết, không thể không nhắc đến khả năng ngoại ngữ. Muốn học, tiếp cận một nền giáo dục tốt hay kiến thức trên thế giới, bản thân mỗi người cần biết sử dụng ngôn ngữ. Hơn nữa, trong bối cảnh toàn cầu hoá, việc thông thạo hai hay nhiều ngôn ngữ là lợi thế cạnh tranh về cơ hội học tập và làm việc.

Học tập là quá trình tiếp thu cái mới, bổ sung và trau dồi các kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, nhận thức,… và cần được thực hiện suốt đời. Chẳng hạn, việc đọc sách, xem thời sự là cách truyền thống nhưng vẫn mang lại giá trị cho người học. Với khả năng ngoại ngữ, chúng ta càng dễ dàng học hỏi hơn, có thể cập nhật thông tin đang diễn ra trên thế giới một cách nhanh chóng. Không những vậy, đây là cách giữ cho não bộ khỏe mạnh, ngăn ngừa quá trình thoái hóa dẫn đến một số chứng bệnh như mất trí nhớ. [2]

Ngun: https://ifoundmyselfinwonderlandsite.wordpress.com/

Tại Đại học Deakin của Úc (2015) [3], Công Dân Toàn Cầu cần trang bị những kỹ năng cần thiết như:

  • Kiến thức về chuyên môn
  • Năng tư duy phê phán
  • Kỹ năng giao tiếp
  • Năng lực liên cá nhân
  • Nhận thức liên văn hoá/ Năng lực giao thoa văn hoá
  • Tham gia tích cực các hoạt động xã hội ở địa phương cũng như toàn cầu.

Sáu kỹ năng này cần được học và đào tạo để làm việc hiệu quả trong môi trường đa văn hóa và liên văn hóa.

Hơn nữa, ý thức toàn cầu chính là hòa nhập nhưng không được hòa tan, tiếp thu cái mới hiện đại nhưng cũng phải có chọn lọc và vẫn giữ được nét đẹp truyền thống của dân tộc, đó là quá trình “hòa nhập nhưng không hòa tan”.

Hội đồng châu Âu cũng khẳng định: Thế giới mà tất cả chúng ta đang sống là một thế giới của sự khác biệt – khác biệt bên trong mỗi nền văn hoá và khác biệt giữa các nền văn hoá. Cần thừa nhận tồn tại sự khác biệt giữa các nền văn hóa (gọi là đa văn hóa – multicultural) và tìm cách phát triển lòng tin và sự am hiểu giữa những người có ý tưởng, quan điểm và giá trị khác nhau (gọi là liên văn hoá – intercultural). [4]

Nhu cầu giao tiếp ngày càng gia tăng giữa các cộng đồng ngôn ngữ – văn hoá nhờ quá trình toàn cầu hoá và quốc tế hoá đòi hỏi người tương tác liên văn hóa  phải có nhận thức, phẩm chất, kiến thức và kĩ năng giao  tiếp  phù hợp  trong môi  trường liên  văn hóa ở các  mức  độ khác nhau.

Theo Byram (1997), “Năng lực giao tiếp liên văn hóa là khả năng giao tiếp và tương tác qua biên giới ngôn ngữ và văn hóa một cách phù hợp và hiệu quả”. Để có được năng lực liên văn hóa, theo tác giả, ta cần tích hợp được năm loại ‘savoir’ (hiểu biết) sau: [5]

  • Savoir s’engager (Critical cultural awareness/ Nhận thức văn hóa có phê phán): Khả năng đánh giá, một cách có phê phán và trên cơ sở các tiêu chí rõ ràng, các góc độ nhìn nhận, các hành vi cùng các sản phẩm được tạo ra trong văn hóa và tại đất nước của chính mình cũng như trong các văn hóa và tại các nước khác.
  • Savoir  etre  (Intercultural attitudes/ Thái  độ liên văn hóa): Hiếu kì, cởi mở, sẵn sàng rũ bỏ đức tin sai lệch về các nền văn hóa khác và đức tin về văn hóa của chính mình.
  • Savoirs (Knowledge/ Kiến thức): Kiến thức về các nhóm xã hội cũng như sản phẩm và quy trình của các nhóm đó tại đất nước của chính mình và tại đất nước của người tương tác  với  mình,  về  các  quy  trình  chung  của tương tác cá nhân và xã hội.
  • Savoir comprendre (Skills of interpreting and relating/Kĩ năng diễn giải và liên hệ): Khả năng diễn giải một văn kiện hay sự kiện từ một nền văn hóa khác, giải thích và liên hệ nó với các văn kiện hay sự kiện từ văn hóa của chính mình.
  • Savoir apprendre/  faire  (Skills  of  discovery and interaction/ Kĩ năng phát hiện và tương tác): Khả năng thụ đc kiến thức mới về một nền văn hóa và các hành vi văn hóa cũng như khả năng vận dụng kiến thức, thái độ, kĩ năng dưới áp lực của giao tiếp và tương tác thực tế.

Cùng hướng đến Mục tiêu Phát triển Bền vững với Liên Hợp Quốc và các đối tác tại Việt Nam, STEP đang hành động để đạt bốn mục tiêu trong 17 mục tiêu đề ra là (1) Giáo dục có chất lượng, (2) Công việc tốt và tăng trưởng kinh tế, (3) Giảm bất bình đẳng và (4) Quan hệ đối tác vì các mục tiêu. [6]

Tài liệu tham khảo:

[1] IDEAS. What is Global Citizenship? Retrieved October 27, 2020, from http://www.ideas-forum.org.uk/about-us/global-citizenship

[2] Dương Tâm, 2020. Lợi ích nếu biết hai ngôn ngữ. Truy cập ngày 29/10/2020 tại https://vnexpress.net/loi-ich-neu-biet-hai-ngon-ngu-4119045.html

[3] Deakin University, 2015. Introduction to the notion of global citizenship.

[4] British Council, 2008. Intercultural Dialogue Booklet. Retrieved October 27, 2020, from https://www.britishcouncil.org/sites/default/files/eod_handbook.pdf

[5] Nguyễn Quang, 2017. Năng lực giao tiếp liên văn hóa: Một mô hình đề xuất. Truy cập ngày 28/10/2020 tại https://www.researchgate.net/publication/320981062_NANG_LUC_GIAO_TIEP_LIEN_VAN_HOA_MOT_MO_HINH_DE_XUAT

[6] Liên hiệp quốc Việt Nam. Các Mục tiêu Phát triển Bền vững tại Việt Nam. Truy cập ngày 28/10/2020 tại https://vietnam.un.org/vi/sdgs

0 replies

Leave a Reply

Want to join the discussion?
Feel free to contribute!

Leave a Reply