Posts

GIÁ TRỊ CỦA HỌC TẬP TRẢI NGHIỆM: KHI VIỆC HỌC KHÔNG CÒN Ở “TRONG LỚP”

By Ha Pham

Chúng ta đang sống ở Thế Giới Phẳng, nhờ vào sự cải tiến của công nghệ, việc tiếp xúc với những kiến thức của mọi người là như nhau. Tuy nhiên, đâu là sự khác biệt trong việc phát triển của mỗi cá nhân?
Với mô hình học trong một lớp đông (thường là 40 người trở lên) và đặt nặng lý thuyết, giáo dục trong trường học ở Việt Nam đôi khi còn cứng nhắc và không tạo được cảm hứng học tập cho học sinh. Việc “ngộ lý thuyết thiếu thực hành” trong môi trường giáo dục truyền thống,  mô hình Học Tập Trải Nghiệm (Experiential Learning) là một trong những hoạt động giáo dục được các nước phát triển trên thế giới áp dụng.

Vậy mô hình học tập này là gì, và nó đem lại giá trị gì còn thiếu cho việc học của học sinh Việt Nam? Cùng chúng tôi tìm hiểu trong bài viết này nha!

HỌC TẬP TRẢI NGHIỆM (EXPERIENTIAL LEARNING) LÀ GÌ?

Mô hình Học Tập Trải Nghiệm (Experiential Learning) được phát triển bởi tiến sĩ David Kolb và chính thức giới thiệu lần đầu vào năm 1984 (McLeod, 2017). Mô hình học tập này được xây dựng dựa trên những lý thuyết về tâm lý học của John Dewey, Kurt Lewin, Jean Piaget và nhiều nhà khoa học về phát triển và giáo dục khác (McLeod, 2017). 

Theo tác giả Minh & Hằng (2018), Học Tập Trải Nghiệm (Experiential Learning) nghĩa là: “Học từ thực nghiệm hoặc học từ cách làm.” Giáo dục sử dụng mô hình Học Tập Trải Nghiệm đưa người học vào một trải nghiệm trực tiếp và khuyến khích suy nghĩ (phản ánh) về những trải nghiệm đó, nhằm giúp người học phát triển các kỹ năng, thái độ và cách nghĩ (Minh & Hằng, 2018).

Tiến sĩ David Kolb (1984) đã tạo ra một biểu đồ giải thích các phong cách học tập (learning style) và quá trình học tập (learning process) của mô hình này. Bài viết sẽ chỉ tập trung vào việc giải thích và nêu ví dụ về phong cách học tập (learning style).

Mô hình Hc Tp Tri Nghim ca David Kolb (1984Mô hình Hc Tp Tri Nghim ca David Kolb (1984)

Tiến sĩ Kolb (1984) cho rằng mỗi người có một phong cách học tập khác biệt cho riêng mình, chịu ảnh hưởng bởi môi trường giáo dục, tính cách, và nhiều yếu tố khách quan khác.

Có 2 trục đối xứng nhau trên biểu đồ: trục Nhận thức chuyển hóa và trục Hành động chuyển hóa. Bác Kolb nói rằng, phong cách học tập của một người sẽ luôn được tạo nên từ 2 yếu tố ở 2 trục khác nhau và không thể được tạo nên từ 2 yếu tố trên cùng một trục. Ví dụ, phong cách học tập không thể được tạo nên từ 2 yếu tố Cảm giác và Tư duy, mà sẽ được tạo nên với công thức Cảm giác Quan sát = phong cách Phân kỳ.

Sẽ dễ dàng hơn nếu chúng ta xây dựng phong cách học tập cho bản thân sử dụng phương thức Ma trận kép, nghĩa là kết hợp 2 ‘lựa chọn’ đối xứng nhau trên 2 trục khác biệt, giống như bảng dưới đây:

Thử nghiệm tích cực
(Làm)
Quan sát có tư duy
(Quan sát)
Trải nghiệm cụ thể
(Cảm giác)
Thích nghi
(Trải nghiệm cụ thể + Thử nghiệm)
Phân kỳ
(Trải nghiệm cụ thể + Quan sát có tư duy)
Khái niệm hóa vấn đề trừu tượng
(Tư duy)
Hội tụ
(Khái niệm hóa vấn đề trừu tượng + Thử nghiệm)
Đồng hóa
(Khái niệm hóa vấn đề trừu tượng + Quan sát có thư duy)

CÁC PHONG CÁCH CỦA MÔ HÌNH HỌC TẬP TRẢI NGHIỆM – TÍNH CÁCH NGƯỜI HỌC VS PHONG CÁCH HỌC TẬP

Theo tác giả Hải Thanh (2018), phong cách học tập phù hợp nhất là phong cách được hình thành dựa trên những tính cách, thói quen và môi trường sinh sống của bản thân người đó. Vậy, từng phong cách học tập có liên quan thế nào tới tính cách của bản thân chúng ta?

PHÂN KỲ (CẢM GIÁC VÀ QUAN SÁT)

  • Những bạn mang phong cách học tập này có thể nhìn mọi thứ từ những quan điểm khác nhau. Bạn rất nhạy cảm, thích xem hơn là làm, hành động để thu thập thông tin và sử dụng trí tưởng tượng để giải quyết vấn đề. Những bạn có xu hướng chú trọng cảm giác và quan sát đặc biệt nổi trội trong việc xem xét một tình huống cụ thể dưới nhiều góc độ khác nhau.
  • Tiến sĩ Kolb gọi phong cách này là Phân kỳ, bởi những các bạn thể hiện tốt hơn trong những tình huống yêu cầu tạo ra ý tưởng, ví dụ như động não (brainstorming). Những bạn Phân kỳ quan tâm về các vấn đề văn hóa đa dạng và muốn thu thập thông tin.
  • Chưa hết, Phân kỳ còn là những người rất tình cảm và biết quan tâm tới mọi người. Những bạn này thường sẽ là người giỏi lắng nghe, và sẽ là người kết nối các thành viên trong nhóm khi làm việc cùng nhau.

ĐỒNG HÓA (SUY NGHĨ VÀ QUAN SÁT)

  • Đây chính là người chơi hệ logic của các phong cách học tập. Những bạn này sẽ cực kì nổi trội trong việc diễn đạt thông tin một cách rõ ràng, súc tích và logic. Nếu bạn mang phong cách học tập này, bạn cũng sẽ rất giỏi trong chuyện “nhặt” thông tin cần thiết từ một biển thông tin to, và sắp xếp chúng thành một danh sách dễ hiểu và logic.
  • Những bạn mang phong cách học tập này ít tập trung về những vấn đề mang tính con người, mà quan tâm nhiều hơn về các ý tưởng và khái niệm trừu tượng. Khi làm việc nhóm, đây sẽ là những bạn giúp kết nối các ý tưởng và phương pháp làm việc một cách hợp lý nhất.
  • Các bạn Đồng hóa cũng sẽ rất phù hợp với những công việc nghiên cứu khoa học, bởi bản chất việc nghiên cứu đòi hỏi rất nhiều đức tính giống với điểm mạnh của phong cách học tập này.

HỘI TỤ (SUY NGHĨ VÀ THỬ NGHIỆM)

  • Cũng giống như Đồng hóa, các bạn mang phong cách Hội tụ cũng không để tâm nhiều tới những vấn đề con người. Tuy nhiên, nếu Đồng hóa là những bạn nghiên cứu để tạo ra lý thuyết, thì Hội tụ sẽ là những người sử dụng lý thuyết đó áp dụng vào công việc trong thực tế.
  • Những bạn này đặc biệt nổi trội trong khả năng tìm kiếm ứng dụng thực tế cho các ý tưởng và lý thuyết đã học được. Đồng thời, các bạn Hội tụ cũng sẽ tỏa sáng ở những nhiệm vụ mang tính kỹ thuật cao.
  • Hơn thế nữa, phong cách học tập Hội tụ sẽ là những người tiên phong thử nghiệm những phương thức thực tế mới lạ cho một ý tưởng, lý thuyết nào đó. Trong học tập và làm việc nhóm, đây sẽ là những bạn giúp “gỡ rối” cho cả nhóm khi phương pháp làm việc ban đầu của mọi người đang không đem lại kết quả tốt.

THÍCH NGHI (CẢM GIÁC VÀ THỬ NGHIỆM)

  • Những bạn Thích nghi thích sử dụng trực giác của mình để tiếp cận vấn đề hơn là suy nghĩ logic.
  • Với những bạn mang phong cách học tập Thích nghi, bài học sẽ được tiếp thu tốt hơn bằng việc ‘thực hành’ và dùng trực giác trong việc phân tích trải nghiệm. Ví dụ như khi làm việc nhóm, những bạn Thích nghi sẽ làm tốt hơn ở những công việc mà bản thân đã có kinh nghiệm rồi, hoặc ở những công việc tạo cho các bạn một cảm giác hứng thú.
  • Ngoài ra, cũng như Hội tụ, các bạn Thích nghi có khả năng dùng thông tin lý thuyết, được tạo ra từ người khác, cho bài học của mình rất tốt. Các bạn này thích sử dụng những kiến thức được đúc kết ra từ trải nghiệm của người khác hơn là tự tạo những kiến thức đó.

HÌNH THỨC HỌC TẬP TRẢI NGHIỆM ĐEM LẠI GIÁ TRỊ GÌ CHO NGƯỜI HỌC?

TÌM RA PHONG CÁCH HỌC TẬP CỦA RIÊNG MÌNH

Bằng cách trực tiếp tham gia vào những hoạt động kích hoạt cả 4 yếu tố Cảm giác, Quan sát, Tư duy và Hành động, người học được khám phá về phong cách phù hợp nhất với bản thân mình, được trao quyền trong học tập và được quyết định phương pháp học tập cho bản thân. 

TÌM RA GIÁ TRỊ CỦA VIỆC HỌC

Cũng như phong cách học tập, đối với mỗi người giá trị của việc học cũng sẽ khác nhau. Qua những trải nghiệm thực tế và hoạt động tư duy, phân tích trải nghiệm, người học được đối chiếu những gì mình học được với những giá trị mà bản thân nắm giữ, qua đó định hình được giá trị của việc học cho riêng mình.

TÌM THẤY NIỀM VUI TRONG HỌC TẬP

Biết được phong cách học phù hợp cũng như giá trị của việc học đối với bản thân, niềm vui của việc học sẽ đến một cách tự nhiên. Qua đó, động lực học tập cũng sẽ được tăng lên.

RÈN LUYỆN KHẢ NĂNG TƯ DUY PHẢN BIỆN

Liên tục ứng dụng khả năng tư duy và quan sát trong học tập là bài rèn luyện tốt nhất cho Tư duy phản biện – một trong những kỹ năng quan trọng nhất của người trẻ trong thế kỷ 21.

Hy vọng bài viết đã đưa đến một cái nhìn rõ nét hơn cho các bạn về mô hình Học Tập Trải Nghiệm.

THAM KHẢO:

  1. McLeod, S. (2017). Kolb’s Learning Styles and Experiential Learning Cycle. Retrieved 30 January 2021, from https://www.simplypsychology.org/learning-kolb.html
  2. Thanh, H. (2018). Kolb – Phong cách học tập. Retrieved 30 January 2021, from https://taogiaoduc.vn/amp/kolb-phong-cach-hoc-tap/
  3. Minh, Đ.T.N. & Hằng, N.T (2018). Học tập trải nghiệm – Lý thuyết và vận dụng vào thiết kế, tổ chức hoạt động trải nghiệm trong môn học ở trường phổ thông. Tạp chí Giáo dục, số 433 (Kì 1 – 7/2018), tr 36-40.

HỌC SÂU HAY HỌC RỘNG?

By Nhat Pham

Dịch từ bài viết: Harvard lecturer: ‘No specific skill will get you ahead in the future’—but this ‘way of thinking’ will

Theo giảng viên Havard: “Không có một kỹ năng cụ thể nào sẽ giúp bạn tiến xa trong tương lai” – nhưng “cách nghĩ này” thì có thể

Chúng ta thường nghĩ rằng người có chuyên môn sâu sẽ có uy tín, thu nhập cao và liên tục được thăng tiến trong công việc. Trái lại, người biết mỗi thứ một ít thường ít được coi trọng.  Nhưng tương lai có thể sẽ rất khác: một đầu óc với đa dạng góc nhìn và có khả năng liên kết kiến thức  (người có kiến thức tổng quát – generalist) có thể sẽ trở nên quan trọng không kém so với người tạo ra kiến thức (chuyên gia – specialist)

Với tốc độ phát triển nhanh chóng của công nghệ trong một thế giới ngày càng trở nên khó đoán, lối tư duy truyền thống “một nghề cho chín còn hơn chín nghề” đã không còn hiệu quả. Thẳng thắn mà nói, thế giới đã thay đổi, nhưng triết lý phát triển kỹ năng của chúng ta thì không.

Sự phức tạp của thế giới hiện tại đòi hỏi  con người phải có khả năng vươn lên ngay cả trong những tình huống mập mờ và khó hiểu. Tình cảnh này khiến cho tất cả đều lo lắng vì chỉ có kiến thức rộng mới mang lại cảm giác an toàn hơn.

Bạn cứ thử nhìn vào mấy từ khoá  giới kinh doạnh thường dùng để khuyên nhủ mọi người trong khoảng 40 – 50 năm trở lại đây đi: năng lực cốt lõi, kỹ năng độc đáo, chuyên môn sâu. Rất nhiều người trong số chúng ta cũng từng có  thời mà chìa khóa thành công chính là phát triển chuyên môn hẹp để thăng tiến.

Ví dụ như, là một bác sĩ thì chưa đủ, người ta còn phải trở thành một bác sĩ chuyên khoa, chẳng hạn như chuyên khoa tim mạch. Nhưng rồi trở thành bác sĩ tim mạch thì cũng chưa đủ, người ta phải chuyên sâu hơn nữa, phải là phẫu thuật viên tim mạch. Và chuyện nhất nghệ tinh, nhất thân vinh này  thì không chỉ gói gọn trong ngành y  mà là ở mọi ngành nghề.

Thông điệp chuyên môn hóa này đã được nhiều thế hệ thấm nhuần. Cứ tập trung phát triển chuyên môn rồi bạn sẽ có cơ hội lên chức và kiếm được nhiều tiền hơn. Cách suy nghĩ này hiệu quả trong quá khứ. Bằng chứng là chính những lãnh đạo hiện tại của chúng ta đi lên bằng con đường này.

Người có hiểu biết rộng rãi sẽ có nhiều lợi thế trong tương lai. (photo credit: Unsplash)

TƯƠNG LAI NẰM TRONG TAY NHỮNG NGƯỜI KIẾN THỨC RỘNG

Thành quả trong khứ chẳng đảm bảo được kết quả ở tương lai là một trong những lời cảnh báo  kinh điển của các quỹ tương hỗ ở Mỹ. Thật vậy, đã tới lúc chúng ta nên nghĩ lại về việc đề cao chuyên môn hóa của mình. Dường như chúng ta đã quá mải mê “đào sâu” mà quên “mở mang” kiến thức.

Người ta hay bảo nhau rằng “Người cầm búa trong tay thì mọi thứ khác đều giống như đinh”. Nhưng nếu người đó có búa, tua vít, và cờ lê thì sao? Phải chăng họ sẽ dùng tua vít nếu đầu vít có một rảnh hẹp? Hay có thể họ sẽ nhìn đầu vít trước? Đầu tròn? Đầu lục giác? Cờ lê có thể sẽ hiệu quả hơn chăng?. Và cuối cùng, chỉ việc biết thêm những dụng cụ này cũng có thể giúp người ta hiểu rõ hơn về vấn đề cần giải quyết..

Nói như trên không có nghĩa là chuyên môn sâu thì vô dụng. Ngược lại là đằng khác. Mang theo chỉ mỗi cây  búa không phải vấn đề. Vấn đề  nằm ở chỗ thế giới đang thay đổi quá nhanh nên việc tích lũy thêm công cụ sẽ giúp con người  định hướng tốt hơn trong sự bất định. Để thành công trong thế giới hôm nay , mỗi người chúng ta phải nhanh nhẹn và linh hoạt.

TRỞ THÀNH NGƯỜI CÓ KIẾN THỨC TỔNG QUÁT NHƯ THẾ NÀO

Làm sao để đạt được mục tiêu này. Đầu tiên, chúng ta cần phóng tầm mắt ra xa và chú ý đến bức tranh toàn cảnh.

Chẳng hạn như, bạn nên đọc hết cả bài báo cáo, chứ không chỉ mỗi phần về ngành của mình. Chuyên ngành hẹp  của bạn là ngành xăng dầu? Vậy thì hãy nghiên cứu  luôn cả những yếu tố tác động đến ngành bán lẻ. Hoặc nếu bạn chuyên về tài chính, tại sao không đọc sách về marketing? Hãy nghĩ lớn và rộng hơn những gì bạn thường hay làm.

Một cách khác là suy ngẫm về tác động qua lại giữa những ngành tưởng chừng như không liên hệ gì đến nhau. Đây là thói quen của những người suy nghĩ có hệ thống. Tìm hiểu luôn cả mối tương quan giữa các ngành và thử tưởng tượng về viễn cảnh nếu như một ngành thay đổi thì các ngành khác sẽ hoạt động ra sao?

Người tổng quát có sẵn một bộ công cụ trong  tay, họ sẽ có khả năng linh hoạt chuyển đổi cách hành động của mình để bắt kịp với sự phát triển của tình hình. Bạn cứ thử nghĩ đến việc  thế giới thay đổi nhanh như thế nào khi internet và công nghệ truyền dữ liệu không dây phát triển đi. Jeff Bezos, ông chủ Amazon, không phải là một chuyên gia bán lẻ có thể dễ dàng đánh bại đối thủ . Lúc mới bắt đầu Amazon, ông chỉ là lính mới trong lĩnh vực này nhưng biết cách thích ứng linh hoạt để chớp lấy một cơ hội khổng lồ.

Bộ công cụ trong tay để chuyển đổi linh hoạt (photo credit: Unsplash)

THÀNH CÔNG TRONG SỰ NGHIỆP CHO NGƯỜI TỔNG QUÁT 

Nhà tuyển dụng thường sẽ tìm kiếm những ứng viên được luân chuyển qua nhiều phòng ban. Đây cũng là điều tối quan trọng với những công ty lớn như Google, khi mà nhân viên của họ liên tục phải nhảy từ phòng ban này sang phòng ban khác, từ vai trò này sang vai trò khác.

Lisa Stern Hayes, một trong những chuyên viên tuyển dụng cấp cao của Google, đã chia sẻ trong một podcast rằng công ty này rất coi trọng những người biết giải quyết vấn đề, sở hữu “năng lực tư duy phổ quát” thay vì kiến thức chuyên sâu.

Lisa giải thích “Bạn cứ nghĩ về tốc độ tăng trưởng của Google đi. Nếu như bạn chỉ thuê một ai đó cho một vị trí cụ thể. Nhưng rồi công ty lại có nhu cầu khác, thì ta lại phải đảm bảo rằng có một công việc nào khác họ có thể làm được tại Google. Vậy tốt hơn hết là thuê những người đa nhiệm thông minh.”

Nếu bạn mới gia nhập thị trường lao động, thì lời khuyên của tôi là hãy lên kế hoạch để được trải nghiệm những môi trường đa văn hóa và đa vị trí. Kỹ năng phân tích bạn phát triển (chẳng hạn như kỹ năng thống kê cơ bản hay tư duy biện luận) trong quá trình này sẽ đáng giá hơn khi cạnh tranh với những ứng viên khác chỉ có kỹ năng chuyên môn hẹp.

Điều duy nhất ta có thể chắc chắn về tương lai đó là sự không chắc chắn. Sự phát triển của trí thông minh nhân tạo và các đột phá công nghệ đã biến thông tin trở thành hàng hóa. Và khi ấy kỹ năng tạo ra thông tin sẽ dần mất giá trị. Thay vào đó, kỹ năng quan trọng của tương lai thực ra lại không phải là kỹ năng; mà nó là cách tiếp cận, một triết lý, một cách nghĩ – và quan trọng hơn hết là bạn ứng dụng cách nghĩ này sớm nhất khi có thể.

HỌC NHIỀU NGOẠI NGỮ, TẠI SAO KHÔNG?

Thao Luu

Ngôn ngữ giữ vai trò quan trọng trong hầu hết các hoạt động của con người từ học tập, làm việc, nghiên cứu, cho đến giải trí, giao tiếp, v.v…. là công cụ để truyền tải và lưu trữ mọi thông tin, vì vậy mà nó song hành và đóng góp cho sự phát triển không ngừng của tất cả lĩnh vực trên thế giới. Theo thống kê mới nhất từ trang Ngôn ngữ của thế giới Ethnologue, hiện nay có 7117 ngôn ngữ đang được nói trên thế giới [1], trong mỗi ngôn ngữ lại lưu giữ lượng thông tin khổng lồ về văn hóa, lịch sử, kinh tế, xã hội,v.v… của quốc gia sử dụng ngôn ngữ đó.

Vậy, đứng trước sự thay đổi không ngừng của các vấn đề toàn cầu về kinh tế, xã hội, môi trường, giáo dục, công nghệ,v.v… con người làm thế nào để cập nhật, hiểu biết và thích ứng với lượng thông tin khổng lồ ấy? Và liệu rằng tiếng Anh – được xem là ngôn ngữ toàn cầu, có phải là chìa khóa vạn năng giúp con người đạt được điều trên? Học nhiều ngoại ngữ và trở thành người có khả năng đa ngôn ngữ cho phép con người dễ dàng tiếp cận với lượng kiến thức vô tận, từ đó mở rộng vốn hiểu biết của mình và dễ dàng thích nghi với sự thay đổi trong môi trường sống, đặc biệt trong thời đại công nghệ liên tục được cải tiến như hiện nay. 

NGUỒN GỐC VÀ ĐỊNH NGHĨA ĐA NGÔN NGỮ (MULTILINGUALISM)

Theo những dẫn chứng trong tài liệu The Impact of Multilingualism on Global Education and Language Learning [2], chủ nghĩa đa ngôn ngữ đã xuất hiện trong thời Hy Lạp, Ai Cập và La Mã cổ đại. Ở đế chế Đông La Mã, luật pháp và các văn bản hành chính thường xuyên được dịch từ tiếng Latinh sang tiếng Hy Lạp. Việc sử dụng cả tiếng Latinh và Hy Lạp là đặc trưng của giới tinh hoa trí thức La Mã và Hy Lạp. Cả hai ngôn ngữ này đều được các quan chức chính phủ và Giáo hội tích cực sử dụng trong thế kỷ thứ 5.

Theo Giáo sư ngôn ngữ học Richard Nordquist, đa ngôn ngữ được định nghĩa là khả năng giao tiếp hiệu quả bằng ba ngôn ngữ trở lên của một cá nhân hoặc một cộng đồng nào đó. [3]

ĐA NGÔN NGỮ TRONG CUỘC SỐNG NGÀY NAY

Trong bài viết về đa ngôn ngữ của Viện Goethe, tác giả cho biết, hàng năm có nhiều người chuyển đến Đức từ các quốc gia khác. Hơn 20% dân số ở Đức đến từ những nền văn hóa khác nhau. Nhiều người trong số đó có khả năng đa ngôn ngữ, họ không chỉ nói tiếng mẹ đẻ mà còn có thể sử dụng được một hoặc nhiều ngôn ngữ khác. Ngoài ra, nhiều người sau khi chuyển đến Đức, đã học tiếng Đức như một ngoại ngữ hoặc ngôn ngữ thứ hai. [4]

Còn ở Singapore – quốc gia đa tộc người, ba tộc người Hoa, Mã Lai và Ấn Độ chiếm tỉ lệ lớn nhất trong tổng dân số, mỗi tộc người sử dụng ngôn ngữ riêng của họ, đồng thời mỗi ngôn ngữ cũng có nhiều biến thể khác nhau. Chính phủ Singapore cho rằng, đa ngôn ngữ giữ vị thế đặc biệt quan trọng trong việc giữ gìn sự đa dạng văn hóa và tạo động lực phát triển kinh tế. Chính vì vậy, họ đã đưa ra nhiều chính sách nhằm giữ gìn và thúc đẩy sự phát triển đa ngôn ngữ trong cộng đồng dân cư. Cùng với tiếng Anh, Chính phủ Singapore thúc đẩy sử dụng tiếng phổ thông Hán ngữ, Mã Lai và Tamil nhằm giữ gìn văn hóa và di sản của ba dân tộc chính, giúp duy trì và xác định bản sắc quốc gia. [5] 

Ở cơ quan liên chính phủ hàng đầu thế giới – Liên Hợp Quốc, có 6 ngôn ngữ được sử dụng chính thức trong trao đổi chuyên môn hàng ngày: Tiếng Ả Rập, Trung Quốc, Anh, Pháp, Nga và Tây Ban Nha. Văn hóa này có tầm quan trọng đặc biệt đối với Liên Hợp Quốc. Đây là nhân tố thúc đẩy lòng kiên nhẫn, sự thấu hiểu, đảm bảo sự tham gia của tất cả mọi người vào công việc chung của tổ chức để đạt được kết quả tốt hơn. [6]

LÝ DO NÊN HỌC NHIỀU NGOẠI NGỮ VÀ TRỞ THÀNH NGƯỜI ĐA NGÔN NGỮ

Những nghiên cứu học thuật, số liệu thống kê về sự hiện diện của đa ngôn ngữ trong các cơ quan, tổ chức quốc tế, các quốc gia, đã chỉ ra vai trò đặc biệt quan trọng của đa ngôn ngữ trong đời sống của con người từ xa xưa đến hiện đại. Sự ra đời của nhiều hiệp định hợp tác quốc tế khiến việc giao lưu giữa các quốc gia rộng mở hơn trước, do đó ngày càng nhiều người đi học, đi làm, định cư ở nước ngoài và họ cần ngoại ngữ để làm cầu nối với con người và nền văn hóa ở đất nước mới.

  • Linh hoạt và tập trung hơn trong cuộc sống hàng ngày 

Đa ngôn ngữ thúc đẩy tính linh hoạt của con người, do đó họ có thể chuyển đổi giữa các công việc hiệu quả hơn. Ngoài ra, khả năng đa ngôn ngữ còn giúp con người dễ dàng bỏ qua các yếu tố gây xao nhãng và nâng cao khả năng tập trung. [7]

  • Đa ngôn ngữ làm tăng hiệu quả của não bộ

Về lâu dài, đa ngôn ngữ giúp cải thiện hiệu quả của não bộ vì nó củng cố cấu trúc và kết nối hai bán cầu não. Đa ngôn ngữ cũng giúp các quá trình suy thoái liên quan đến tuổi tác diễn ra chậm hơn. [7]

  • Học ngôn ngữ mới nhanh hơn thông qua đa ngôn ngữ

Những người đa ngôn ngữ cảm thấy dễ dàng hơn khi học ngôn ngữ mới vì họ có thể sử dụng các chiến lược ngôn ngữ khác nhau. Điều này giúp họ nhạy bén hơn khi tiếp thu thông tin từ ngôn ngữ mới, dễ dàng tìm kiếm các từ, cấu trúc câu quen thuộc và hiểu các quy tắc ngữ pháp. [7]

  • Dễ thích nghi khi sinh sống ở một đất nước khác

Có lẽ lợi thế rõ ràng nhất của đa ngôn ngữ là khả năng giao tiếp với những người từ các quốc gia khác mà không gặp bất kỳ trở ngại nào. Trong một số trường hợp có thể sử dụng ngôn ngữ cơ thể hoặc ngôn ngữ trung gian là tiếng Anh, nhưng với việc gắn bó và sinh sống trong khoảng thời gian dài tại một đất nước mới, có khả năng giao tiếp với người bản địa bằng ngôn ngữ của họ, bạn sẽ thích nghi tốt hơn và nhận được nhiều thiện cảm hơn. [7]

  • Đa ngôn ngữ giúp bạn mở ra nhiều cánh cửa cơ hội

Đa ngôn ngữ giúp bạn hiểu các nền văn hóa nước ngoài tốt hơn và trải nghiệm chúng một cách sâu sắc hơn. Điều này giúp bạn làm quen với những người bạn mới ở vùng lãnh thổ khác, mở rộng mạng lưới bạn bè ra quốc tế. [7]

Tiếng Anh đã trở thành ngôn ngữ của toàn cầu, vì vậy việc thành thạo ngôn ngữ này là một điều cần thiết trong xã hội ngày nay. Dù vậy, việc biết thêm nhiều ngoại ngữ ngoài tiếng Anh và ngôn ngữ mẹ đẻ sẽ là một điểm cộng giúp bạn trở thành ứng viên sáng giá trong mắt các tập đoàn đa quốc gia, tổ chức quốc tế. Có khả năng sử dụng thêm một ngôn ngữ, bạn sẽ có thêm cơ hội hiểu biết thêm về một nền văn hóa, làm giàu vốn kiến thức chuyên môn của mình, đám mây lưu trữ của chính bạn sẽ ngày một lớn hơn, hiểu biết sâu rộng hơn và điều đó sẽ giúp bạn không bị bỏ lại trong bối cảnh khi mà các quốc gia trên thế giới đang ngày càng hội nhập hóa như hiện nay. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] How many languages

https://www.ethnologue.com/guides/how-many-languages

[2] Lid King. (2017). The Impact of Multilingualism on Global Education and Language Learning, 9 https://assets.cambridgeenglish.org/research/perspectives-multilingualism.pdf

[3] What Is Multilingualism?

https://www.thoughtco.com/what-is-multilingualism

[4] Mehrsprachigkeit

https://www.goethe.de/prj/mwd/de/idl/fam/msk.html

[5] Nguồn lực ngôn ngữ trong sự phát triển của Singapore https://tcnn.vn/news/detail/41057/Nguo_n_lu_c_ngon_ngu_trong_su_pha_t_trie_n_cu_a_Singaporeall.html

[6] Multilingualism

https://www.un.org/sg/en/multilingualism/index.shtml

[7] 5 Gründe für Mehrsprachigkeit

https://www.jicki.de/5-gruende-fuer-mehrsprachigkeit/

Tác giả: Thảo Lưu

LỢI ÍCH CỦA VIỆC TRỞ THÀNH CÔNG DÂN TOÀN CẦU

Ở trong những phần trước, chúng ta đã được tìm hiểu về khái niệm, ý nghĩa và cũng như cách để trở thành một Công Dân Toàn Cầu. Trở thành Công Dân Toàn Cầu có nghĩa là trở thành người có nhận thức, hiểu biết, có kiến thức về những vấn đề mang tính toàn cầu và từ đó có thể dễ dàng hòa nhập vào các môi trường quốc tế, kết nối giữa các quốc gia hay đóng vai trò tích cực trong các vấn đề về hòa bình, sự bền vững và công bằng trong xã hội. Từ đó sẵn sàng hành động vì một thế giới công bằng, tốt đẹp hơn.

Vậy việc trở thành một Công Dân Toàn Cầu như vậy sẽ đem lại những lợi ích gì cho chúng ta? Phần 3 này của chuỗi bài viết Công Dân Toàn Cầu sẽ giúp bạn trả lời hai câu hỏi trên, đồng thời giúp bạn có một cái nhìn bao quát hơn về Global Citizen.

TRỞ THÀNH CÔNG DÂN TOÀN CẦU CÓ NHỮNG ÍCH LỢI GÌ?

Educational Tours đã khẳng định rằng có năm lợi ích của việc trở thành một Công Dân Toàn Cầu là việc rèn luyện nâng cao các kỹ năng như [1]:

  • Tư duy phản biện và kỹ năng giải quyết vấn đề
  • Tinh thần cộng đồng và kỹ năng hợp tác, giao tiếp
  • Kỹ năng kỹ thuật
  • Khả năng thích ứng
  • Nhận thức về giao thoa văn hóa

Không chỉ có như thế, Oxfarm cũng đã đưa ra một loạt các lợi ích cụ thể hơn của việc trở thành Global Citizen [2]:

  • Xây dựng hiểu biết cho bản thân về các sự kiện thế giới
  • Cơ hội được áp dụng lý thuyết vào thực tế
  • Cơ hội được tham gia vào các hoạt động địa phương, quốc gia và quốc tế
  • Nâng cao khả năng lập luận và nêu quan điểm
  • Thấu hiểu những giá trị bản thân có thể đem đến cho cộng đồng

Trở thành một Công Dân Toàn Cầu không chỉ là việc rèn luyện các kỹ năng hay nâng cao tri thức, hiểu biết mà còn là khả năng nhìn thấy được những vấn đề to lớn, bao quát trong xã hội hiện tại ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững và cả những bất công trong xã hội. Cũng như báo Tuổi Trẻ cũng nhấn mạnh rằng: “…một công dân toàn cầu phải ý thức được những vấn đề liên quan đến sự phát triển bền vững, không chỉ của một cộng đồng hay một quốc gia mà còn của cả nhân loại, qua đó áp dụng vào thực tế để giải quyết chúng”. [3]

Có thể thấy, việc trở thành Công Dân Toàn Cầu đem đến cho ta những lợi ích không hề nhỏ, đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay, khi mà các quốc gia đang đẩy mạnh giao thương, hội nhập, thế giới dần trở thành căn nhà chung. Điều đó đòi hỏi mỗi chúng ta phải tự trang bị những kiến thức, kỹ năng cũng như là hiểu biết cho bản thân mình nhằm không chỉ nâng cao giá trị của bản thân mà còn giúp ta tránh bị đào thải trong một xã hội ngày càng hội nhập và phát triển như thế. Việc trở thành Công Dân Toàn Cầu sẽ cho ta cơ hội học hỏi trải nghiệm từ các hoạt động mang tính cộng đồng để từ đó học hỏi kinh nghiệm, kỹ năng, những cơ hội được gặp gỡ, trao đổi với những người năng động, tài năng cùng chung chí hướng mà còn cả những cơ hội việc làm to lớn sau này. 

Để trở thành Công Dân Toàn Cầu chúng ta cần học hỏi thêm kỹ năng, tích lũy kiến thức cho bản thân từ nhiều nguồn khác nhau, đổi tư duy bó hẹp và đặc biệt là học hỏi kinh nghiệm từ  những người đi trước.

Tài liệu tham khảo

[1] Educational Tours. 5 benefits of Global Citizenship from https://blog.eftours.com/inspiration/education/21st-century-skills-of-global-citizenship

[2] Oxfarm. What is Global Citizenship from https://www.oxfam.org.uk/education/who-we-are/what-is-global-citizenship/

[3] Báo Tuổi Trẻ. Hành trình trở thành công dân toàn cầu của người trẻ Việt tại https://tuoitre.vn/hanh-trinh-tro-thanh-cong-dan-toan-cau-cua-nguoi-tre-viet-20191111172047051.html 

10 KỸ NĂNG CẦN THIẾT TRONG TƯƠNG LAI

10 KỸ NĂNG CẦN THIẾT TRONG TƯƠNG LAI

BƯỚC CHUYỂN MÌNH CỦA THẾ GIỚI

Chúng ta đang sống trong thời đại công nghệ số hóa khi mà công nghệ đang xuất hiện ngày càng nhiều và hầu như phủ rộng khắp các lĩnh vực cũng như các khía cạnh của đời sống con người dẫn đến sự thay đổi, chuyển mình của các ngành nghề hiện tại. Thử nhớ lại xem, khi nào là lần cuối cùng bạn tự ra cửa hàng và mua cho mình một ly trà sữa thơm ngon? Giờ đây, mọi thứ thật đơn giản và dễ dàng khi bạn chỉ cần ngồi tại nhà là đã có thể mua cho mình một ly trà sữa theo sở thích.

Thế nhưng, cách mạng công nghệ diễn ra không chỉ đem lại lợi ích về nhiều mặt cho con người mà còn những thách thức. Công nghệ có thể đem đến những ngành nghề mới, phù hợp với nhu cầu, thị hiếu của thị trường nhưng đồng thời cũng “bóp chết” những ngành nghề truyền thống hoặc những ngành nghề có thể ứng dụng máy móc, công nghệ tiên tiến. Hiện nay cứ 10 công việc thì sẽ có 6 nghề sử dụng đến 30% công nghệ tự động trong các hoạt động. [1] 

Ngun: Ecoworld Inc.

VẬY LÀM THẾ NÀO ĐỂ KHÔNG BỊ ĐÀO THẢI? LÀM THẾ NÀO ĐỂ CÓ ĐƯỢC MỘT CÔNG VIỆC TỐT?

Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) đã có một bản báo cáo về công việc trong tương lai. [2]. Trong bản báo cáo có đề cập đến nhóm bốn loại kỹ năng cần thiết mà bản thân mỗi chúng ta nên trang bị.

BỐN LOẠI KỸ NĂNG ĐÓ LÀ:

  • Kỹ năng giải quyết vấn đề
  • Tự quản lý bản thân
  • Hợp tác với mọi người
  • Sử dụng và phát triển công nghệ

TRONG ĐÓ ĐƯỢC PHÂN RA LÀM 10 KỸ NĂNG CỤ THỂ NHƯ SAU:

  • Tư duy phân tích và đổi mới
  • Có chiến lược học tập và chủ động tìm tòi, học hỏi
  • Giải quyết vấn đề phức tạp
  • Tư duy phản biện và phân tích
  • Sáng tạo – Nguyên bản – Tiiên phong 
  • Lãnh đạo và tạo sức ảnh hưởng
  • Sử dụng, quản lý và kiểm soát công nghệ
  • Thiết kế và lập trình phần mềm
  • Bền bỉ – Chịu áp lực tốt – Linh hoạt
  • Lý luận – Giải quyết vấn đề – Đưa ra ý tưởng

Ngun: World Economic Forum. The Future of Jobs Report 2020

Việc rèn luyện cho bản thân những kỹ năng cần thiết này là yếu tố tiên quyết để xác định liệu rằng bạn có phải là người làm chủ tương lai hay không.

Bên cạnh đó, STEP cũng gửi đến bạn các báo cáo của bài khảo sát “Will Robots Take My Job?”. Nghiên cứu này sẽ phân tích xác suất một công việc sẽ bị thay thế bằng tự động hóa. Bạn có thể tham khảo để có được một cái nhìn rõ nét hơn về thế giới trong tương lai nhé!

À nếu bạn lo lắng chưa biết nên bắt đầu từ đâu thì đừng quên STEP của chúng mình đã thiết kế những chương trình Học Tập Trải Nghiệm Study Tour để từ đó chúng ta có thể phát triển những kỹ năng cần thiết và mở rộng thế giới quan của bản thân. Từ đó, trở thành những Công Dân Toàn Cầu ở thời đại mới nhé.

Tài liệu tham khảo: 

[1] Jobs lost, jobs gained: What the future of work will mean for jobs, skills, and wages

https://www.mckinsey.com/featured-insights/future-of-work/jobs-lost-jobs-gained-what-the-future-of-work-will-mean-for-jobs-skills-and-wages#

[2] World Economic Forum. The Future of Jobs Report 2020 (Infographics)

[3]  Bản báo cáo Will Robot Take My Job?

https://willrobotstakemyjob.com/17-2021-agricultural-engineers

CỐ VẤN (MENTORSHIP) VÀ LỢI ÍCH CỦA VIỆC CỐ VẤN

By Lien Le

Cố vấn là người chỉ đường dẫn lối, giúp mình tìm được câu trả lời cho những điều mình còn thắc mắc.

Ở STEP, mentorship là yếu tố vô cùng quan trọng. Là những người có nhiều trải nghiệm hơn trong môi trường đa văn hoá, các anh chị tại STEP luôn cố gắng hỗ trợ, giúp đỡ và chia sẻ cho các bạn trẻ các kiến thức và kỹ năng cần thiết để trải nghiệm thế giới và học tập ở môi trường quốc tế.

Trên con đường khám phá bản thân và trở thành một công dân toàn cầu, chắc hẳn bạn đã từng nghe qua về một vài khái niệm như mentoring, mentorship – một hình thức tư vấn giữa mentor (người cố vấn) và mentee (người được cố vấn). Ai trong cuộc sống này cũng có lúc sẽ đối mặt với những băn khoăn, không chắc chắn về lựa chọn của bản thân. Và nếu không có người đi trước hướng dẫn, bạn sẽ mất rất nhiều thời gian, sức lực để tìm tòi mà chưa chắc đã tìm đúng đường dẫn đến thành công. Như tục ngữ Việt Nam có câu “Không thầy đố mày làm nên”, nói về vai trò của việc tìm sư, bái sư học đạo, bài viết này sẽ cho bạn một số khái niệm khái niệm và lợi ích của mentorship.

NGUỒN GỐC VÀ ĐỊNH NGHĨA CỐ VẤN (MENTORSHIP)

Khái niệm về cố vấn (mentor) được cho là có nguồn gốc từ thời Hy Lạp cổ đại. Trong truyện của Homer, trước khi đến thành Troy chiến đấu, vị vua Odyssey của xứ Ithaca đã chỉ định người bạn cũ của mình là Mentor làm người giám hộ và chăm sóc cho con trai mình, Telemachus. Về sau, nữ thần Athene đã hoá thân vào Mentor và dạy dỗ, dẫn dắt, hỗ trợ cho Telemachus để có thể đoàn tụ với cha và giành lại quyền kiểm soát Ithaca [1].

Theo Kram (1985), khái niệm về cố vấn có thể có ý nghĩa khác nhau đối với những người khác nhau [2]. Do đó, kể từ năm 1980, khoảng 40 định nghĩa khác nhau đã được sử dụng trong các tài liệu nghiên cứu thực nghiệm. Hầu hết các định nghĩa đều có chung quan điểm rằng người cố vấn (mentor) là người có nhiều kinh nghiệm, kiến thức và mối quan hệ và có thể truyền lại những gì họ đã học cho người được cố vấn (mentee) [3].

Được phát triển bởi Haggard et al. (2011), có ba thuộc tính cốt lõi của việc cố vấn, giúp phân biệt cố vấn với các mối quan hệ khác liên quan đến công việc:

  • Nguyên tắc “có qua có lại”: Cố vấn không phải mối quan hệ một chiều mà có sự trao đổi, tương tác qua lại thông qua nhiều hình thức khác nhau như hướng dẫn, giảng dạy, tư vấn, hỗ trợ tâm lý, bảo vệ,…
  • Mối quan hệ mang tính phát triển: Cố vấn liên quan đến phát triển cuộc sống hay sự nghiệp của người được cố vấn. Tuy nhiên, việc cố vấn cũng đem lại cơ hội học hỏi cho chính người cố vấn.
  •  Sự tương tác thường xuyên, nhất quán trong một khoảng thời gian: Dù các mối quan hệ cố vấn khác nhau về mức độ cam kết, cường độ và thời gian nhưng việc cố vấn thường có tính chất dài hơn các hình thức khác như khai vấn, tư vấn.

LỢI ÍCH CỦA MENTORSHIP ĐỐI VỚI MỖI CÁ NHÂN

Cố vấn là mối quan hệ có tương tác qua lại và mang tính phát triển. Do vậy, việc cố vấn có rất nhiều lợi ích cho cả mentor và mentee: [4] .

ĐỐI VỚI MENTEE [5]

Chuẩn bị cho tương lai và khát vọng nghề nghiệp cao hơn. Mentor có thể cung cấp cho bạn những ý tưởng, suy nghĩ và hiểu biết sâu sắc để giúp bạn có thể mở rộng tầm nhìn hơn. Họ cũng chia sẻ cho bạn những thông tin chi tiết về định hướng và các quyết định phù hợp trong quá trình phát triển bản thân hay khởi nghiệp. Lời khuyên của họ có thể hạn chế những sai lầm trên con đường sự nghiệp của bạn.

Phát triển cá nhân và sự nghiệp, bao gồm nâng cao sự tự tin, thăng tiến trong công việc, lương và phúc lợi và cân bằng giữa công việc và cuộc sống. Khi có sự hướng dẫn của mentor, mentee cũng cần làm việc chăm chỉ và vừa trau dồi khả năn làm việc một cách thông minh, hiệu quả. Bạn cũng cần hiểu rõ về con người, các mối quan hệ, cơ hội và các chiến lược trong công việc và cuộc sống. Mentor sẽ giúp bạn trong việc tìm hướng đi một cách khôn ngoan hơn nhờ những kinh nghiệm của họ.

Phát triển kỹ năng kết nối và xây dựng mối quan hệ. Khi  lĩnh vực chuyên môn giữa mentor và mentee là giống nhau, mentor có thể kết nối mentee với những người phù hợp . Bạn sẽ có cơ hội được học hỏi thêm kiến thức chuyên môn, bên cạnh sự hỗ trợ của  mentor. Hơn nữa, việc giao lưu, trao đổi giúp bạn có các mối quan hệ chuyên nghiệp và có thể cần đến trong tương lai.

ĐỐI VỚI MENTOR [6]

– Cải thiện kỹ năng giao tiếp và ảnh hưởng tích cực đến người khác. Những nhà quản lý, lãnh đạo hiệu quả cần biết cách thiết lập các mối quan hệ tích cực và đáng tin cậy. Khi trao đổi với mentee, họ sẽ có cơ hội thực hành các kỹ năng cần thiết như sự đồng cảm và lắng nghe tích cực.

– Nâng cao sự tự tin và tự đánh giá bản thân. Cố vấn người khác chính là cơ hội để bạn tự đánh giá những trải nghiệm, thành công và thất bại trong quá khứ và rút ra các bài học cuộc sống cho riêng mình, đồng thời có thể chia sẻ bài học cho mentee để họ không vấp phải sai lầm tương tự. 

– Mở rộng kết nối và mạng lưới quan hệ. Cố vấn người khác trong lĩnh vực chuyên môn của bạn sẽ tạo ra các mối quan hệ mới mẻ và thú vị, bởi nuôi dưỡng mối quan hệ là một trong những yếu tố quan trọng trên con đường thành công và phát triển sự nghiệp.

Tài liệu tham khảo:

[1] Colley, H., 2001. Righting re-writings of the myth of Mentor: a critical perspective on career guidance mentoring. British Journal of Guidance and Counselling, 177-198.

[2] Kram, K. E.,  1985.  Mentoring at work:  Developmental relationships in organizational life. Administrative Science Quarterly, 30(3).

[3] Haggard, D. L., Dougherty, T. W., Turban, D. B., & Wilbanks, J. E., 2011. Who is a mentor? A review of evolving definitions and implications for research. Journal of Management, 37(1), 280–304.

[4] Quinn, J., 2012. Mentoring: progressing women’s careers in higher education. Retrieved September 25, 2020, from
https://www.researchgate.net/publication/304025152_Mentoring_progressing_women’s_careers_in_Higher_Education_report_for_Equality_Challenge_Unit 

[5] Falayi, F., 2018. 5 Reasons Why You Need A Mentor. Retrieved September 25, 2020, from https://thriveglobal.com/stories/5-reasons-why-you-need-a-mentor/#:~:text=Mentors%20Motivate,making%20their%20shoulders%20your%20platform 

[6] Howard, L., 2018. The Benefits of Being a Mentor. Retrieved September 25, 2020, from https://er.educause.edu/blogs/2018/5/the-benefits-of-being-a-mentor

TRÍ THÔNG MINH VĂN HOÁ LÀ GÌ?

By Lien Le

Trí thông minh văn hoá (cultural intelligence), hay còn được gọi tắt là CQ, thuật ngữ này còn khá mới lạ ở Việt Nam. Tuy nhiên, đây là một khái niệm thông dụng cần được chú ý trong lĩnh vực đa dạng và hòa nhập.

TRÍ THÔNG MINH VĂN HOÁ LÀ GÌ?

Được định nghĩa bởi David Livermore (2009) trong cuốn sách “Leading with cultural intelligence”: [1]

Trí thông minh văn hoá là khả năng làm việc hiệu quả trong môi trường văn hoá đa quốc gia, đa dân tộc và đa tổ chức.

Ngoài ra, theo tờ báo uy tín thế giới Harvard Business Review [2], có ba yếu tố chính của trí thông minh văn hoá là Suy nghĩ (Head), Cơ thể (Body) và Cảm xúc (Heart).

  • Suy nghĩ: kiến thức và hiểu biết của bạn, một phần đến từ quan sát và nghiên cứu các mặt về đời sống vật chất, tinh thần của một đất nước khác. Nhưng bạn cũng cần có chiến lược thu thập thông tin mới và khả năng sử dụng các chiến lược đó để nhận ra những kiến thức được chia sẻ. Điều này sẽ giúp bạn ra quyết định và giao tiếp phù hợp hơn với nhiều người từ các nước khác nhau.
  • Cơ thể: các biểu hiện, hành động của bạn như cử chỉ, ngôn ngữ cơ thể hay cách bạn xử lý vấn đề trong môi trường đa văn hoá.
  • Cảm xúc: để có trí thông minh văn hoá cao, bạn cần phải tự tin, không sợ mắc lỗi và đủ tự tin tiếp tục học hỏi, từ đó có thể giải quyết các tình huống khác biệt văn hóa mới.

Ta có thể hiểu rằng trí thông minh văn hoá có liên quan đến trí thông minh cảm xúc (emotional intelligence – EI) nhưng có nghĩa rộng hơn một chút. Người có trí thông minh cảm xúc cao có thể nắm bắt được cảm xúc, mong muốn và nhu cầu của người khác. Hơn vậy, người có trí thông minh văn hoá cao có thể hoà hợp các giá trị, niềm tin, thái độ và ngôn ngữ cơ thể của những người từ các nền văn hoá khác nhau. Họ sử dụng những kiến thức này để kết nối với người khác bằng sự đồng cảm và thấu hiểu. [3]

TẠI SAO TRÍ THÔNG MINH VĂN HOÁ LẠI QUAN TRỌNG, NHẤT LÀ ĐỐI VỚI NHỮNG NGƯỜI TRẺ?

Đầu tiên, bạn sẽ có cơ hội được học hỏi từ nhiều nguồn tri thức, thông tin và những người tài năng hơn. Với sự bùng nổ mạnh mẽ của công nghệ thông tin, giờ đây việc tiếp cận với nguồn học bổng, giao lưu văn hoá trở nên dễ dàng hơn rất nhiều. Hay chỉ với một thiết bị điện tử kết nối mạng, bạn có thể tìm kiếm các workshop, sự kiện trên mạng xã hội để giao lưu với nhiều người từ khắp nơi trên thế giới. Ranh giới giữa các quốc gia ngày một mờ dần.

Tiếp theo, trong bối cảnh toàn cầu hoá, Việt Nam đã gia nhập nhiều tổ chức quốc tế và ký kết các hiệp định thương mại như Hiệp định thương mại tự do Liên minh châu – Việt Nam (EVFTA), Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (gọi tắt là Hiệp định CPTPP) hay hội nhập ASEAN. Đây chính là cơ hội nhưng cũng chính là thách thức đối với những người trẻ tuổi khi họ dễ dàng được trải nghiệm và làm việc trong môi trường quốc tế, đa văn hóa ngay tại Việt Nam. Nhờ vậy, khi hiểu và chấp nhận sự khác biệt văn hoá, bạn đem đến cho chính mình nhiều cơ hội làm việc và trải nghiệm giữa các quốc gia. 

Cuối cùng, ai có trí thông minh văn hoá cao sẽ có lợi thế cạnh tranh hơn so với những bạn khác. Bạn sẽ là người nâng cao hiệu quả công việc thông qua giao tiếp, làm việc nhóm trong môi trường đa văn hoá. Chính sự đồng cảm và tự tin giúp bạn nhận biết được những khác biệt trong văn hóa để từ đó có thể tương tác một cách hiệu quả với người khác. Hơn nữa, chính những điều này sẽ giúp bạn giảm thiểu những hiểu lầm, định kiến, xung đột không đáng có và phát triển bản thân hơn. [4]

LÀM THẾ NÀO ĐỂ RÈN LUYỆN TRÍ THÔNG MINH VĂN HOÁ?

Cũng như các chỉ số thông minh khác của con người, trí thông minh văn hoá một phần là do bẩm sinh nhưng cũng nhờ vào việc giáo dục, trải nghiệm và rèn luyện mà có được. Do đó, chúng ta cần liên tục học hỏi, trau dồi thường xuyên.

Theo tác giả David Livermore (2009), trí thông minh văn hoá có thể học được dựa trên các chỉ số thông minh khác và thực hành theo mô hình bốn bước:

  • Xác định động lực của bản thân (Động cơ)
  • Tìm kiếm để học hỏi (Kiến thức)
  • Bước ra khỏi vùng an toàn và thách thức những giới hạn về tri thức (Chiến lược)
  • Học hỏi, làm việc bằng cách tôn trọng sự khác biệt (Hành động)

Ông cũng đã đề cập nhiều cách để nâng cao trí thông minh văn hoá của mỗi người như đọc sách, học một ngôn ngữ mới, viết nhật ký, tham gia các lớp học về kỹ năng giao thoa văn hoá, học diễn xuất, đi du lịch, tham quan bảo tàng, các nơi tín ngưỡng, tâm linh,…

Nhìn chung, để rèn luyện trí thông minh văn hoá, chúng ta cần trang bị kiến thức và tinh thần cởi mở để học hỏi cái mới. Hãy để bản thân tò mò và khám phá các nền văn hoá khác thông qua việc quan sát, đặt câu hỏi, tìm kiếm sự khác biệt và tương đồng. Khi tìm hiểu về nền văn hoá khác, tạm ngừng phán đoán, định kiến của bản thân. Thay vào đó, ta nên ý thức về việc cần tôn trọng, đồng cảm và ứng xử phù hợp với một văn hoá mới.

Tài liệu tham khảo:

[1] David A. Livermore. (2009). Leading with Cultural Intelligence: The New Secret to Success.

[2] P. Christopher Earley & Elaine Mosakowski. (2004). Cultural Intelligence. Retrieved September 15, 2020, from https://hbr.org/2004/10/cultural-intelligence.

[3] Jane Farrell. What is Cultural Intelligence? Breaking Down the Buzzword. Retrieved September 15, 2020, from https://theewgroup.com/what-is-cultural-intelligence/.

[4] Ibrahim Yitmen. (2013). Organizational Cultural Intelligence: A Competitive Capability for Strategic Alliances in the International Construction Industry.

NĂNG LỰC GIAO THOA VĂN HÓA LÀ GÌ? – PHẦN 2

Đọc xong phần 1, bạn cảm thấy năng lực giao hóa trở nên thật quan trọng trong thế giới hiện tại. Với mong muốn trau dồi năng lực này, bạn tìm kiếm các hoạt động trao đổi văn hóa ở châu Âu và cảm thấy hứng thú với một chương trình ở Bulgaria, đất nước của hoa hồng, quê hương của các vũ công Bước nhảy Hoàn vũ phiên bản Việt. Bạn đăng ký, trúng tuyển, và lên máy bay.

Một buổi chiều đẹp trời ở Sofia, thủ đô của Bulgaria, bạn bước vào một quán cà phê nhỏ để làm việc.

-”Bạn có muốn dùng trà với đường không?” – người phục vụ hỏi.

Theo thói quen tại Việt Nam, bạn cười tươi gật đầu, kỳ vọng sẽ được nếm cái vị ngọt thanh của trà. Người phục vụ cũng nở nụ cười rồi nhanh chóng quay lại quầy pha chế.

5 phút sau ly trà được bưng ra, bạn háo hức nhấp một ngụm. Trà vẫn thơm ngon… nhưng sao lại đắng thế này. Rõ ràng là ban nãy bạn đã gật đầu đồng ý. Người phục vụ cũng đã cười xác nhận. Chuyện gì đã xảy ra?

Hóa ra ở Bulgaria gật đầu nghĩa là từ chối, còn lắc đầu mới là đồng ý. Và nó hoàn toàn trái ngược với thói quen ở nền văn hóa của bạn. Người phục vụ cũng chưa được trang bị kỹ năng giao thoa văn hoá để truyền tải cho khách hàng ngoại quốc. Còn bạn, nếu có mẩu kiến thức nhỏ này, bạn đã có một ly trà ngon.

Ví dụ trên phần nào cho thấy tầm quan trọng của việc tìm hiểu các nền văn hóa khác, đặc biệt là ý nghĩa của ngôn ngữ cơ thể. Nó đồng thời cũng là một thành tố quan trọng trong năng lực giao thoa văn hóa. Vậy những thành tố quan trọng còn lại là gì, hãy cùng mình tìm hiểu trong phần thứ 2 của loạt bài này nhé.

Hành trang giao thoa văn hóa 

Cái thú vị trong lĩnh vực giao thoa văn hóa, theo mình, nằm ở sự đa dạng của các khung năng lực giao thoa văn hóa. Mỗi nhà khoa học có một cách hình dung của riêng mình về những loại kỹ năng, kiến thức và thái độ cần thiết, dựa trên xuất thân, góc nhìn, trải nghiệm sống, nền tảng học thuật, và thậm chí là cả bộ gene của họ. Tuy nhiên, sự đa dạng này khi liên hệ ra thực tế có thể khiến cho những người thực hành như chúng ta hoặc những người mới tiếp xúc cảm thấy đau đầu trước một  rừng các loại năng lực và không biết bắt đầu từ đâu.

May mắn thay, chúng ta có Darla K. Deardorff, nhà giáo dục học người Mỹ với định nghĩa “thân thiện” mình đã đề cập ở phần 1. Deardorff, trong một nghiên cứu của mình, giải quyết vấn đề mình nêu ra ở trên bằng cách quy tụ 20 học giả từ nhiều lĩnh vực và quốc gia khác nhau. Sau đó bà hỏi ý kiến của họ về các thành tố quan trọng nhất cần có trong một khung năng lực văn hóa thông qua một bảng khảo sát. Hướng tiếp cận này giúp Deardorff tìm hiểu được các học giả cùng đồng ý với nhau ở loại năng lực nào. Đây có thể là một nền tảng uy tín để chúng ta xây dựng một bộ năng lực giao thoa văn hóa cốt lõi. Kết quả của nghiên cứu này được bà công bố trong một bài báo khoa học vào năm 2006. Bây giờ chúng ta hãy cùng xem bà thu hoạch được những gì.

Theo thống kê của Deardorff (2006), có 3 loại năng lực lớn nhận được 19 phiếu đồng ý và 1 phiếu phản đối:

  • Khả năng giao tiếp hiệu quả và và phù hợp trong các tình huống giao thoa văn hóa dựa trên kiến thức, kỹ năng, và thái độ giao thoa văn hóa.
  • Khả năng thay đổi khung tham chiếu nhận thức (frame of reference) một cách phù hợp và thay đổi hành vi theo bối cảnh văn hóa; khả năng thích ứng (adaptability), mở rộng (expandability) và linh hoạt thay đổi (flexibility) khung tham chiếu nhận thức.
  • Khả năng nhận diện các hành vi mang đặc thù văn hóa và thực hiện các hành vi mới khác so với nền văn hóa của chính mình

Đi sâu hơn vào các thành tố chi tiết của năng lực giao thoa văn hoá (specific components of intercultural competence), chỉ có một kỹ năng duy nhất nhận được sự đồng tình tuyệt đối (20 phiếu): thấu hiểu thế giới quan của người khác (understanding others’ worldviews).

Ngoài ra, 5 loại kỹ năng chi tiết khác nhận được 19 phiếu thuận, 1 phiếu chống là:

  • Nhận thức văn hóa bản thân và khả năng tự đánh giá
  • Khả năng thích ứng và điều chỉnh với môi trường văn hóa mới
  • Khả năng lắng nghe và quan sát
  • Thái độ cởi mở đối với việc các trải nghiệm học hỏi giao thoa văn hóa và với con người từ nền văn hóa khác. Khả năng thích ứng với sự đa dạng trong phong cách giao tiếp và học tập giao thoa văn hóa.

Như vậy, Deardorff đã giúp cho chúng ta gom rừng năng lực bạt ngàn về còn một cây năng lực duy nhất với 3 năng lực lớn và 6 thành tố chi tiết. Nhưng 9 vẫn là một con số lớn gây nhiều hoang mang. Và cơn đau đầu lại ập đến.

Chìa khóa giao thoa văn hóa

Đầu tiên, nhìn lại các kỹ năng được đồng thuận nhiều nhất ở trên, ta có thể thấy chúng đều xoay quanh một yếu tốt cốt lõi:  hiểu rõ chính mình (và nền văn hóa của mình) và hiểu rõ người khác (và nền văn hóa của họ). Thứ hai, phần lớn các loại năng lực đều được diễn tả bằng các thao tác tư duy như “nhận thực, thích ứng, cởi mở, nhận diện hành vi, thay đổi khung nhận thức”. Tuy nhiên, nói thế không có nghĩa là  chúng ta phải khám phá mọi nền văn hoá. Đây là điều không tưởng. Bao Thanh Thiên từng nói: Chỉ có thể biết nhiều hay ít, khó có thể biết cho đủ. Chúng ta cần một “công cụ” để nhận thức cũng như thích ứng với sự khác biệt văn hoá: “một công cụ dĩ bất biến ứng vạn biến”.  Chính các yếu tố trên dẫn đến việc phát triển tư duy biện luận (critical thinking) là chìa khóa để chúng ta phát triển năng lực giao thoa văn hóa.

Thông thường, như mình đã nhắc đến ở trên, các định nghĩa về tư duy biện luận xoay quanh việc mô tả kỹ năng này bằng một loạt các thao tác tư duy như: phân tích, tổng hợp, đánh giá, so sánh, nhận ra các kết nối, v.v. Tuy nhiên, trong loạt bài này, mình muốn giới thiệu với bạn một góc nhìn khác về năng lực này khá phù hợp với chủ đề giao thoa văn hóa. Góc nhìn này là gì, xuất phát từ những ai, hãy đón đọc ở bài sau nhé.

Cảm ơn bạn đã đọc đến đây và hẹn gặp lại ở bài viết tiếp theo!

By Thu Do

Tài liệu tham khảo

Deardorff, D. K. (2006). Identification and assessment of intercultural competence as a student outcome of internationalization. Journal of studies in international education10(3), 241-266.

NĂNG LỰC GIAO THOA VĂN HÓA LÀ GÌ? – PHẦN 1

By Nhat Pham

Bài viết này mong muốn góp phần chỉ ra nguyên nhân vì sao nguồn nhân lực trẻ Việt Nam, bất kể ngành nghề nào cũng cần trang bị năng lực giao thoa văn hóa. Thông qua đó, chúng tôi hy vọng giới thiệu đến các bạn đọc về những loại năng lực này dựa trên khái niệm văn hóa.

BỐI CẢNH

Ở thời điểm hiện tại, biên giới sẽ dần chỉ còn có ý nghĩa về mặt địa lý khi cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang đến sẽ đẩy mạnh tốc độ toàn cầu hóa. Bối cảnh này mở ra cơ hội hợp tác quốc tế toàn diện và sâu rộng hơn trong tất cả các lĩnh vực. Tại khu vực Đông Nam Á, Hiệp định ASEAN về di chuyển Thể nhân được ký vào cuối năm năm 2012 [1]  nghĩa là thị trường lao động sẽ là của chung các quốc gia, giúp người lao động Việt Nam có thể làm việc tại tất cả các nước ASEAN một cách dễ dàng hơn. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc ngay tại trên đất nước mình chúng ta cũng sẽ có những ngày một nhiều đồng nghiệp quốc tế. Các tiếp xúc liên văn hoá  trong và ngoài nước là điều không thể tránh khỏi. Và để tận dụng cơ hội này, lực lượng lao động Việt Nam, bên cạnh các kỹ năng kiến thức chuyên môn, cần có một năng lực mới để thành công trong môi trường quốc tế: năng lực giao thoa  văn hóa (intercultural competence).

VĂN HÓA VÀ NĂNG LỰC GIAO THOA VĂN HÓA

Hiểu biết về khái niệm văn hóa sẽ là nền tảng để ta hiểu về năng lực giao thoa văn hóa. Có gần hơn 500 định nghĩa về văn hóa. Để phục vụ cho mục đích giới thiệu tổng quan của bài viết, mình sẽ dùng định nghĩa của UNESCO [2]: Hoan nghênh các bạn để lại bình luận về 1 định nghĩa mà các bạn yêu thích!!!!

“Văn hóa là một phức hệ tổng hợp bao gồm tri thức, đức tin, nghệ thuật, hệ giá trị/đạo đức, luật pháp, phong tục,  và tất cả khả năng hoặc thói quen khác do con người tạo nên như là một thành viên của xã hội.”

Định nghĩa này liệt kê ra một loạt các khái niệm để diễn tả văn hóa như tất cả những gì xoay quanh con người và do con người tạo ra. Để sắp xếp các khái niệm này vào một hệ thống dễ nhớ hơn, người ta thường sử dụng khái niệm tảng băng trôi trong văn hóa (The Iceberg Concept of Culture) của nhà nhân chủng học người mỹ Edward T. Hall [3].

Hall cho rằng nền văn hóa của một xã hội bất kỳ giống như một tảng băng trôi, những gì ta thấy được chỉ chiếm khoảng 10% của nền văn hóa đó. Và chỉ khi thấu được 90% còn lại bao gồm những giả định, niềm tin, giá trị ẩn sau những yếu tố hữu hình, ta mới thực sự hiểu được một nền văn hóa.  

Tương tự khái niệm văn hóa, khái niệm năng lực giao thoa  văn hóa cũng được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Tuy nhiên, có một định nghĩa khá “thân thiện” từ nhà giáo dục Darla K. Deardoff [4] cho những bạn muốn tiếp cận khái niệm này :

Năng lực giao thoa văn hóa là khả năng phát triển những loại kiến thức (knowledge), kỹ năng (skill) và thái độ (attitude) đặc thù để giao tiếp và hành động phù hợp và hiệu quả trong các tương tác liên văn hóa.

Các “tương tác liên văn hóa” có thể được hiểu là tương tác giữa hai người đến từ hai nền văn hóa khác nhau. Nền văn hóa, theo mình, có thể được hiểu ở 04 cấp độ: (1) nền văn hóa của các quốc gia, (2) các tiểu văn hóa trong một nền văn hóa (VD: tiểu văn hóa miền Nam, Trung, Bắc), (3) các nhóm cộng đồng khác nhau trong một tiểu văn hóa, (4) các thành viên trong cùng một nhóm cộng đồng. Dựa vào các cấp độ trên, dù có vẻ nghịch lý, tương tác giữa hai người trong cùng một gia đình thuần Việt cũng cũng có thể được xem là một tương tác giao thoa văn hóa. Vậy khi nhìn theo góc độ này, có thể thấy việc bồi đắp năng lực giao thoa văn hóa mang lại lợi ích ngay từ khi ta còn ở trong cộng đồng bản xứ của chính mình.

Kết hợp nguyên lý tảng băng trôi và định nghĩa trên, một người có năng lực giao thoa  văn hóa tốt sẽ là người không để các tảng băng va chạm vào nhau dẫn đến mâu thuẫn bằng cách nhìn ra phần chìm trong cả tảng băng văn hóa của chính mình và của người khác để hành động hợp lý.

Tuy nhiên, đâu là những kỹ năng, kiến thức, thái độ cấu thành nên một khung năng lực giao thoa văn hóa? Làm thế nào để phát triển năng lực này? Người ta dùng những tiêu chí gì để so sánh các nền văn hóa khác nhau? Những câu hỏi trên sẽ dần được trả lời trong các bài viết sau, các bạn đón đọc nhé!

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Tóm lược Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC). (2016, July 29). Retrieved September 05, 2020, from https://trungtamwto.vn/.

[2] UNESCO. (2009). The 2009 UNESCO framework for cultural statistics (FCS).

[3] Hall, E. T. (1976). Beyond culture. New York: Doubleday.

[4] Deardorff, D. K.  (2006) , The Identification and Assessment of Intercultural Competence as a Student Outcome of Internationalization at Institutions of Higher Education in the United States, Journal of Studies in International Education.10:241-266.

LIỆU CÁC BÀI TRẮC NGHIỆM TÍNH CÁCH CÓ THỰC SỰ HỮU DỤNG?

Trong vài năm gần đây, các bài trắc nghiệm tính cách – personality test, đang dần trở nên phổ biến, nhất là đối với cộng đồng những người trẻ, những người vẫn chưa thực sự hiểu hết về bản thân, cũng như thiếu sự dẫn dắt hiệu quả đến từ các bậc phụ huynh. Các bài trắc nghiệm tính cách dần xuất hiện tràn lan trên Internet nhưng liệu các bài trắc nghiệm này có thực sự cho ta kết quả chính xác? Đặc biệt đối với các bạn trẻ, vốn chưa hoàn toàn nhận thức được bản thân, thì kết quả đến từ các bài trắc nghiệm này liệu có đem lại một hệ quả tiêu cực nào không?

NGUỒN GỐC CỦA CÁC BÀI TRẮC NGHIỆM TÍNH CÁCH

Có thể nhiều bạn sẽ bất ngờ, nhưng các bài trắc nghiệm tính cách và tâm lý có nguồn gốc từ lĩnh vực quân sự. Khái niệm “trắc nghiệm tính cách”, “trắc nghiệm tâm lý” xuất phát từ tận Thế Chiến thứ I, khi các nhà nghiên cứu quân sự muốn phân loại các chiến sĩ thành những nhóm binh chủng khác nhau (ví dụ: bộ binh, không quân…), thông qua các khuynh hướng tâm lý khác nhau ở mỗi chiến sỹ. Khái niệm này bắt đầu hình thành và càng ngày càng nở rộ như chúng ta đã biết ngày nay.

TẠI SAO CHÚNG TA KHÔNG THỂ TIN TƯỞNG HOÀN TOÀN VÀO CÁC BÀI TRẮC NGHIỆM TÍNH CÁCH?

1) THIẾU TÍNH NHẤT QUÁN

Một trong những lý do khiến nhiều người phê bình và công kích các bài trắc nghiệm tính cách này là ở tính nhất quán của chúng. Ví dụ, với trắc nghiệm 16 nhóm tính cách MBTI, những người đã làm kiểm tra sau một thời gian, có thể là vài tháng, khi tiến hành thực hiện bài kiểm tra đó lần 2, đã nhận được một kết quả khác.

2) QUY CHỤP CON NGƯỜI THÀNH CÁC “NHÓM TÍNH CÁCH”

Một lý do khác là các bài trắc nghiệm tính cách thường “quy chụp” người thực hiện thành những nhóm nhất định. Ví dụ: bài trắc nghiệm RIASEC, hay còn được biết đến với là Holland Code, chia những người thực hiện thành các nhóm như “Nhóm thực tế – Realistic”, “Nhóm nghiên cứu – Investigative” hay “Nhóm mạo hiểm – Entrepreneur”…trong khi đa số con người thường sở hữu những tính cách đa dạng thuộc nhiều nhóm tính cách khác nhau.

3) TÍNH SUY DIỄN, BẮC CẦU THIẾU CĂN CỨ

Đặc biệt, ở những bài trắc nghiệm hướng nghiệp như RIASEC, các chuyên gia tâm lý học cho biết một trong những sai lầm trầm trọng của chúng là việc dựa vào nét tính cách của một người và suy diễn ra các lựa chọn nghề nghiệp phù hợp cho họ. Ví dụ: những người “tự tin”, “ưa mạo hiểm” thì nhất định sẽ phù hợp cho lĩnh vực kinh doanh, hoặc quân sự. Điều này là không chính xác, bởi có rất nhiều người tự tin, nhưng không hề yêu thích lĩnh vực kinh doanh. Hoặc có nhiều người thành công trong các lĩnh vực mạo hiểm này, nhưng luôn tự miêu tả bản thân là một người cẩn trọng, không thích mạo hiểm.

4) HỆ LỤY TRONG QUY TRÌNH TUYỂN DỤNG

Việc quá lệ thuộc vào các bài trắc nghiệm này đôi khi tạo ra những hệ lụy nghiêm trọng. Điển hình là một số công ty, sau khi yêu cầu các ứng viên thực hiện những bài trắc nghiệm tính cách, đã quyết định từ chối đơn xin việc của họ, chỉ vì họ không thuộc nhóm tính cách mà công ty cần!

Một trong những lý do khiến các bài trắc nghiệm tâm lý, dù thiếu tính chính xác và nhất quán, vẫn đang được ưa chuộng bởi đông đảo người dùng, là vì thông qua việc xếp đặt con người vào các nhóm tính cách, chúng giúp thỏa mãn được một trong những nhu cầu của chúng ta: nhu cầu được trao cho bản thân mình một định nghĩa, một danh phận (trong trường hợp này là những “ENTP”, “ISFJ”, những “người hướng nội”, “người hướng ngoại”, những “người thích phân tích”, “người sáng tạo”…).

KẾT LUẬN

Vì vậy, chúng ta nên xem kết quả của các bài trắc nghiệm tính cách này chỉ mang tính chất của một bài tham khảo. Để hạn chế việc quá lệ thuộc vào các bài trắc nghiệm tính cách, chúng ta cần phải tích cực tự tìm hiểu bản thân qua những hình thức khác thực tế hơn như thử làm những công việc liên quan đến mảng mình thích, hoặc tham gia các khóa học về định hướng bản thân để từ đó hạn chế việc quá lệ thuộc vào các bài trắc nghiệm.

Nguồn: Noron.vn