Posts

THÔNG HIỂU TRUYỀN THÔNG – P3: CÁC LOẠI BẪY THÔNG TIN VÀ NĂM NGUYÊN TẮC VÀNG TRONG THÔNG HIỂU TRUYỀN THÔNG

By Kieu Khanh

Được viết bởi Kiều Khanh

Trong phần 2 của loạt bài về Thông hiểu truyền thông (Media Literacy), chúng ta đã cùng tìm hiểu về các loại hình thông tin sai lệch cũng như lịch sử hình thành của chúng trên thế giới. Trong bài viết lần này, chúng ta sẽ cùng đi kỹ hơn vào các loại bẫy truyền thông xã hội (social media trap) được tạo nên bởi những loại thông tin sai lệch, và cùng đi sâu hơn vào những ví dụ trong truyền thông Việt Nam.

ĐỊNH NGHĨA VỀ BẪY TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI (SOCIAL MEDIA TRAP)

Bẫy truyền thông xã hội (Social media trap) định nghĩa bởi Vinalink Media JSC [4] là một chiếc bẫy mà người dùng mạng xã hội bị dẫn dắt vào những câu chuyện không đầu không cuối, các cuộc tranh luận vô tiền khoáng hậu về hành vi, ngôn từ, những sự kiện nóng hổi hay các chủ đề sex-sốc-sến, và làm sai lệch nội dung ban đầu.

Người sử dụng mạng dễ dàng bị “dắt mũi” nếu họ ngây thơ và thả trôi thông tin theo những gì báo chí hay mạng xã hội đưa ra. Do vậy, bất kỳ ai trong chúng ta nếu không cẩn trọng đều có thể bị “sập bẫy” bởi giới truyền thông. Họ lợi dụng tâm lý “nhẹ dạ cả tin” của người đọc để dẫn dắt dư luận, và để lấp đầy thông tin về xã hội và thế giới cho những đối tượng có nhiều óc tò mò, hoặc có hội chứng FOMO (fear of missing out – hội chứng sợ bỏ lỡ những điều thú vị mà người khác đang trải nghiệm).

NHỮNG BẪY TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI HƯỚNG TỚI ĐỘC GIẢ

HƯỚNG ĐẾN TÂM LÝ CON NGƯỜI

Năm 2019, Coca Cola thực hiện chiến dịch “Try not to hear this” [5] ở thị trường châu Âu với hội chứng synesthesia – hiện tượng xảy ra trong não khi có sự kết hợp giữa các giác quan (thị giác, thính giác và vị giác). Khi tôi nhắc đến vị chua của quả chanh, chắc hẳn bạn đang có cảm giác cồn cào ở cổ họng, vị chua ở đầu lưỡi, và enzyme bắt đầu tiết ra trong miệng đúng không? Tất cả xảy ra trong bộ não và tác động đến các bộ phận cơ thể của bạn.

Trong chiến dịch quảng cáo này, các nhà marketer của Coca Cola khơi gợi âm thanh trong ký ức đã được lưu trữ trong trí nhớ của khách hàng. Và thương hiệu muốn kết nối những ai đã từng trải nghiệm âm thanh của Coke sẽ nhớ lại thương hiệu của họ. Ý tưởng rất sáng tạo nhưng bạn hãy cẩn thận, tình cờ vào một cửa hàng tiện lợi để mua đồ về nhà, bạn có thể “bị lừa” bởi chiến dịch và dễ dàng mua một chai Coke, cảm nhận âm thanh sống động khi bật nắp, hay tiếng xì xèo của bọt Coke.

Hay cách nhà quảng cáo ứng dụng mùi hương trong quảng cáo ngoài trời để kích thích khứu giác và cảm giác thèm ăn của khách hàng: mùi khoai tây nướng của McCain tại trạm xe buýt ở Anh, mùi bánh táo mới nướng phảng phất trong chuyến tàu điện được thực hiện bởi Heel Holland Bakt tại Hà Lan để khơi gợi một căn bếp di động [6] hay chiến dịch Wall & Chain (Bức tường và Xiềng Xích) đầy cảm động của Airbnb hướng ngày Kỉ niệm 26 năm bức tường Berlin sụp đổ [7] thông qua kỹ thuật kể chuyện (storytelling) để đánh vào tâm lý con người.

Bạn có nghĩ, những chiến lược đầy ý nghĩa và cảm động này chỉ muốn đưa bạn một câu chuyện thú vị? Ồ không! Các tập đoàn, các nhà nghiên cứu đều làm vì một mục đích nào đó, giống cách chủ tòa soạn Pulitzer đã làm với cậu bé Yellow Kid năm nào. 

 Trong kiến thức về marketing, psychographics là một trong những nhân tố quan trọng để các marketers có thể định vị và tìm ra insights của khách hàng. Họ sử dụng psychographics [8] để tìm hiểu tại sao chúng ta mua sản phẩm bằng cách nghiên cứu về nhân cách (personality), các giá trị đạo đức (values), hành vi thái độ (attitudes), sở thích (interests) và lối sống (lifestyles); đồng thời ứng dụng demographics nhân khẩu học (về tuổi tác, giới tính, chủng tộc, nơi sinh sống và tình trạng nghề nghiệp) để nắm bắt tâm lý người dùng. Marketers giống như những bà mối đầy khéo léo, họ tìm hiểu chúng ta thật kĩ càng và tìm kiếm phương pháp tiếp cận phù hợp nhất để đưa bạn tình cho khách hàng.

CUNG CẤP THÔNG TIN MỘT CHIỀU

Vừa mới đây, showbiz Việt rùm beng mối tình tay ba giữa Sơn Tùng MTP, Thiều Bảo Trâm và Hải Tú [9] cùng MV mới “Chúng ta của hiện tại” mà nhiều bạn có thể biết. Ba nhân vật chính này chưa đưa ra một lời xác thực hay công khai bất kỳ điều gì về “mối tình lâu năm” giữa Sơn Tùng và Thiều Bảo Trâm, hay “phim giả tình thật” giữa Sơn Tùng MTP và Hải Tú.

Nhưng báo chí lá cải Việt đã viết gì? Nhiều đối tượng đã nghiên cứu tài khoản instagram của ba nhân vật, tìm ra các dấu hiệu chung, đưa ra các giả định và quy chụp những thông tin họ tìm kiếm là thật. Sự thực là, Sơn Tùng chưa bao giờ công khai anh có người yêu và Thiều Bảo Trâm cũng chưa cung cấp thông tin gì. Các fan “stalk” thấy họ đã đi du lịch cùng nhau suốt 7-8 năm qua và cho rằng họ là người yêu chính thống. Sau đó, chính họ đặt Hải Tú là “trà xanh” và phê phán hành động của cô xen vào mối quan hệ ấy. Đến hiện tại, cả ba nhân vật chính đều im lặng, và công ty M-TP Entertainment chưa có bất kỳ phản hồi gì về vấn đề này. Cộng đồng netizen của showbiz Việt thực sự đang làm quá sức vì một công trình chưa chắc đã là của họ.

Trở lại khóa Media Literacy của Crash Course đã được tác giả tham khảo cho bài viết trước, Smooth đã chia sẻ: “When something is free, you are the product”. Khi nhìn nhận quan điểm này từ khóa học, nếu ai cũng tin ngay vào lời Smooth nói thì chắc hẳn ai cũng hoang mang khi sử dụng mạng? Tác giả Faith Rogow trong bài bình luận về khóa học này [10] đã phản biện, điều này không hoàn toàn chính xác. Nếu bất kỳ sản phẩm nào miễn phí và chúng ta bị đem bán thì những nguồn tài liệu mở hay chính bài viết này cướp đi của bạn điều gì? Đồng thời, tác giả cũng đưa ra các lý luận về điểm tốt, điểm giới hạn và góp ý mở rộng về nội dung khóa học mà người đọc cần suy ngẫm, nghiên cứu và hoài nghi với các thông tin được cung cấp. 

BỊ “DÁN NHÃN”

Nhà lý thuyết văn hóa học Stuart Hall cho rằng, ý thức hệ phân biệt chủng tộc (racist ideologies) đang lan rộng khắp truyền thông và điều này gây hiểu lầm, và tai hại khi chúng ta để truyền thông định hướng một quan niệm duy nhất về phân biệt chủng tộc trên thế giới. Cũng như việc chúng ta dán nhãn lên người châu Á mọt sách (nerdy Asian), (token minority), những người đồng tính nữ “nam tính” (butch lesbian) hay tụi châu Âu ham mê tình dục (kinky European) và để chúng làm đại diện cho toàn bộ một cộng đồng (dân tộc, giới, tuổi tác, khuyết tật, chủng tộc, định hướng giới) (trích từ khóa Media Literacy của Crash Course).

Ngoài ra, khi nhận thức “Hồng là cho bé gái, xanh là cho bé trai”, hay khi tiếp nhận những khẩu hiệu tuyên truyền “Đừng để HIV hủy hoại cuộc đời bạn” với quả cầu gai, đầu lâu trên khắp đường phố, liệu rằng chúng ta có đang bị ảnh hưởng bởi những poster tuyên truyền và tạo ra những khuôn mẫu về giới và sự phán xét lên những người mắc căn bệnh thế kỷ HIV không? 

Vậy hãy thử một bài test đơn giản, tác giả Ngọc Hà của Vietcetera đã chia sẻ 12 thiên kiến xác nhận (cognitive bias) mà mỗi người có thể mắc phải [11], như khuynh hướng khuôn mẫu (stereotyping), thiên kiến về giới (gender bias), hiệu ứng sai lệch thông tin (misinformation effect) hay ngụy biện trong lập luận (logical fallacy). Hãy nhìn nhận xem bạn đã từng mắc phải những sai lầm này trong quá khứ chưa? Và bạn đạt bao nhiêu điểm trên 12 thiên kiến xác nhận ấy? Làm thế nào để sửa đổi?

5 NGUYÊN TẮC GIÚP BẠN TRÁNH KHỎI CÁI BẪY CỦA TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI

Giáo sư John Naisbitt từng nói: “Chúng ta đang chết đuối trong thông tin nhưng lại chết đói về tri thức.” (We are drowning in information but starved for knowledge.). Và ông cũng chỉ ra rằng trong thế giới thay đổi liên tục này, kỹ năng quan trọng nhất cần có là học phương pháp học.

Trong khóa học Media Literacy của Crash Course, Renee Hobbs đã gợi ý 5 câu hỏi [12] giúp bạn tìm hiểu sâu hơn về việc thông tin mạng được cung cấp như thế nào:

  1. Ai đã tạo ra thông điệp và mục đích của thông điệp này là gì?
  2. Thông điệp này sử dụng phương pháp, kỹ thuật nào để thu hút sự chú ý của độc giả?
  3. Bài viết này mô tả, phản ánh phong cách, giá trị hay quan điểm gì?
  4. Mỗi cá nhân có thể hiểu thông điệp này như thế nào? 
  5. Điều gì bị bỏ lỡ hay không được đề cập đến trong bài viết này?

Đồng thời, tác giả Nguyen Thu Giang và Bùi Việt Hà (2010) [13] cũng đưa thêm năm câu lập luận đi cùng với 5 câu hỏi của Renee Hobbs:

  • Thông điệp truyền thông được xây dựng có tính chủ ý (Ai tạo ra thông điệp?)
  • Các thông điệp truyền thông được áp dụng những hình thức sáng tạo riêng biệt (Những kỹ thuật, phương thức nào được sử dụng trong thông điệp truyền thông để thu hút sự chú ý?)
  • Một thông điệp truyền thông được tiếp nhận khác nhau với những đối tượng khác nhau (Những người khác sẽ tiếp nhận thông điệp này khác tôi như thế nào?)
  • Truyền thông chứa đựng giá trị và quan điểm (Giá trị, quan điểm, lối sống nào được thể hiện, hoặc bị loại khỏi thông điệp?
  • Hầu hết các thông điệp truyền thông được cấu trúc để đạt mục đích lợi nhuận hoặc quyền lực (Tại sao thông điệp được gửi đi?)

Và từ đây, bạn có thể bắt đầu tò mò và đặt ra các câu hỏi liên quan đến bộ phim gần nhất bạn đã coi trên rạp, bộ sản phẩm dưỡng da bạn mới mua, hay một trò chơi điện tử được bán ở cửa hàng, những sản phẩm truyền thông này đã có một chặng đường dài như thế nào để có thể đến tay bạn?

NGUỒN THAM KHẢO:

[1] Câu chuyện “Thử thách Momo” khiến bé trai 8 tuổi tử vong (28/11/2020) 

https://laodong.vn/xa-hoi/momo-thu-thach-tro-choi-gi-khien-be-trai-8-tuoi-tu-vong-bat-thuong-857795.ldo Accessed 05/12/2020

[2] Clip Spiderman Elsa trên Youtube có những hình ảnh nhạy cảm, bạo lực, không phù hợp với trẻ em nhưng được nhà sản xuất/kênh Youtube dán mác Dành cho Trẻ em  

https://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/goc-phu-huynh/tre-em-viet-dang-bi-dau-doc-boi-clip-gan-elsa-phan-cam-352364.html Accessed 05/12/2020

[3] Thùy Chi (2017). Kênh Youtube nổi tiếng Thơ Nguyễn lại bị dân mạng chỉ trích vì làm clip “nghịch dại” cho trẻ em. https://kenh14.vn/kenh-youtube-noi-tieng-tho-nguyen-lai-bi-dan-mang-chi-trich-vi-lam-clip-nghich-dai-cho-tre-em-20170628122733359.chn Accessed 05/01/2020

[4] https://www.slideshare.net/vinalink/by-truyn-thng-mng-x-hi-social-media-trap Accessed 05/01/2021

[5] Brands Vietnam (2019). “Try not to hear this: Khi hình ảnh phát ra tiếng động”

https://www.brandsvietnam.com/campaign/576-CocaCola-Try-not-to-hear-this-Khi-hinh-anh-phat-ra-tieng-dong Accessed 06/02/2021

[6] Thu Nguyệt (2021). “Tích hợp mùi hương trong các chiến dịch quảng cáo ngoài trời”. https://www.brandsvietnam.com/congdong/topic/29313-Tich-hop-mui-huong-trong-cac-chien-dich-quang-cao-ngoai-troi Accessed 06/02/2021

[7] Nhật Ánh (2020). “Bức tường và Xiềng xích – Khám phá nghệ thuật kể chuyện từ chiến dịch thành công của Airbnb”.

https://advertisingvietnam.com/buc-tuong-va-xieng-xich-kham-pha-nghe-thuat-ke-chuyen-tu-chien-dich-thanh-cong-cua-airbnb Accessed 06/02/2021

[8] Alex Birkett (2020). “Psychographics: What They Are & How Marketers Use Them”. https://cxl.com/blog/psychographics/ Accessed 06/02/2021

[9] Tâm An (2021). “Scandal “trà xanh” của Sơn Tùng MTP dưới góc nhìn kinh doanh: Đừng đùa với đám đông giận dữ!” https://cafef.vn/scandal-tra-xanh-cua-son-tung-mtp-duoi-goc-nhin-kinh-doanh-dung-dua-voi-dam-dong-gian-du-20210128134653789.chn Accessed 06/02/2021

[10] Faith Rogow (2019). “MEDIA RESOURCE REVEW Crash Course in Media Literacy”.   The National Association for Media Literacy Education’s Journal of Media Literacy Education 11 (1), 120 – 126. https://doi.org/10.23860/JMLE-2019-11-1-7. Accessed 30/11/2020

[11] Ngọc Hà (2021). “12 thiên kiến thường gặp: Nguyên nhân của những sai lầm mà bạn đang mắc phải” https://vietcetera.com/vn/12-thien-kien-thuong-gap-nguyen-nhan-cua-nhung-sai-lam-ban-dang-mac-phai Accessed 06/02/2021

[12] Young African Leaders Initiative. “Media Literacy: Five Core Concepts https://yali.state.gov/media-literacy-five-core-concepts/ Accessed 30/11/2020

[13] Nguyen Thu Giang, Bùi Việt Hà. 2010. Tri tạo truyền thông – Một cách tiếp cận mới trong giáo dục. Bài đăng trên Tạp chí Con người số 1/2010. Accessed 30/11/2020

https://www.academia.edu/10633062/Tri_t%E1%BA%A1o_truy%E1%BB%81n_th%C3%B4ng_M%E1%BB%99t_c%C3%A1ch_ti%E1%BA%BFp_c%E1%BA%ADn_m%E1%BB%9Bi_trong_gi%C3%A1o_d%E1%BB%A5c_T%E1%BA%A1p_ch%C3%AD_Nghi%C3%AAn_c%E1%BB%A9u_Con_ng%C6%B0%E1%BB%9Di_S%E1%BB%91_1_2010

GỢI Ý BẠN ĐỌC TÌM HIỂU THÊM: 

3 tips về media literacy khi tiếp cận thông tin mới trên mạng truyền thông xã hội

(1) 4 yếu tố quan trọng khi tiếp cận một thông tin mới: Relevance – Accuracy – Bias – Reliability

(2) 5 mức độ đo lường một bài viết đáng tin cậy: Likeability – Consistency – Consensus – Scare

(3) Các kỹ năng journalistic verification: cross-checking, lateral reading, plagiarism, abuse of statistics

DIGITAL LITERACY – TRÌNH ĐỘ KỸ THUẬT SỐ

Trong bài viết 10 Kỹ năng cần thiết trong tương lai chúng tôi đã chia sẻ trước đó, sử dụng và phát triển công nghệ, cụ thể là Digital literacy – trình độ kỹ thuật số là một trong nhóm bốn loại kỹ năng cần thiết nên được trang bị để bạn ghi điểm trong mắt nhà tuyển dụng. Là thế hệ GenZ, bên cạnh việc tiếp thu kiến thức chuyên môn, rèn luyện kỹ năng giao tiếp, nâng cao năng lực ngoại ngữ, bạn làm thế nào để bắt kịp những công nghệ mới hay bạn biết gì về trình độ kỹ thuật số, liệu có phải chỉ dừng lại ở khả năng sử dụng máy vi tính, các phần mềm tin học như Microsoft Word hay PowerPoint? Cùng chúng tôi tìm hiểu qua bài viết này nhé!

ĐỊNH NGHĨA

Theo tài liệu “A Global Framework of Reference on Digital Literacy Skills for Indicator 4.4.2” của UNESCO, trình độ kỹ thuật số là khả năng truy cập, quản lý, hiểu, tích hợp, giao tiếp, đánh giá và tạo ra thông tin một cách an toàn và thích hợp thông qua các công nghệ kỹ thuật số đối với công việc và doanh nghiệp khởi nghiệp. Trong đó bao gồm các năng lực được gọi chung là trình độ tin học, trình độ công nghệ thông tin, hiểu biết về thông tin và hiểu biết về phương tiện truyền thông. [1]

Nói cách khác, trình độ kỹ thuật số là việc sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông một cách tự tin, có cân nhắc kỹ lưỡng và sáng tạo để đạt được các mục đích liên quan đến công việc, học tập, giải trí, hoà nhập và/ hoặc tham gia vào xã hội. [2]

TRÌNH ĐỘ KỸ THUẬT SỐ TRONG GIÁO DỤC VIỆT NAM

Ví dụ điển hình về trình độ kỹ thuật số trong giáo dục Việt Nam, đặc biệt ở giai đoạn giãn cách xã hội vì dịch Covid-19 được thể hiện qua việc dạy và học trực tuyến. Trong buổi tọa đàm Tương lai của giáo dục trực tuyến tại Việt Nam, PGS. TS Nguyễn Ngọc Vũ – Phó hiệu trưởng trường Đại học Hoa Sen đã chia sẻ: “Có một số trở ngại đáng cân nhắc để chuyển đổi số thành công. Đó là trình độ kỹ thuật số (digital literacy) của học sinh và giáo viên, khả năng đồng bộ hoá các tính năng trên cùng một nền tảng, khả năng tự chủ của học sinh, cũng như khả năng kiểm soát lớp học online của giáo viên. [3] 

Cùng về chủ đề học trực tuyến, ở buổi tọa đàm Chuyển đổi kỹ năng số ở Việt Nam [4] các diễn giả đã chia sẻ tình hình chung về trình độ kỹ thuật số của học sinh Việt Nam từ những nghiên cứu thực tế. Do đại dịch COVID-19, giáo dục cần chuyển sang hình thức trực tuyến và điều này đã bộc lộ nhiều lỗ hổng:

  • Hầu hết những trẻ sống ở các vùng sâu vùng xa ít có cơ hội được tiếp cận và học tập trên nền tảng kỹ thuật số; 
  • Nhiều học sinh thiếu truy cập internet, không có thiết bị và hiểu biết không đầy đủ về kỹ thuật số; 
  • Giáo viên phần lớn không quen với công nghệ mới và chưa được đào tạo đầy đủ để sử dụng hiệu quả các công cụ mới này;
  • Thanh thiếu niên Việt Nam nhận thức được rằng kiến thức về kỹ thuật số có vai trò quan trọng cho tương lai của mình nhưng không phải tất cả đều cho rằng mình được trang bị đủ kiến thức và kỹ năng trong lĩnh vực này;
  • Những thanh thiếu niên khuyết tật, sống ở vùng sâu, vùng xa, miền núi và dân tộc thiểu số không có chung nhận thức về giáo dục kỹ thuật số như các bạn cùng trang lứa.

LÀM THẾ NÀO ĐỂ “NÂNG CẤP” TRÌNH ĐỘ KỸ THUẬT SỐ 

Là những người trẻ, tinh thần chủ động học hỏi và biết tận dụng mọi nguồn lực đang có chính là công thức tối ưu giúp bạn thăng hạng cho trình độ kỹ thuật số của bản thân. Trong một bài viết trên trang web của ĐH Rasmussen, tác giả Megan Ruesink đã liệt kê ra 5 cách giúp bạn phát triển trình độ kỹ thuật số của mình. Tác giả đã mách nhỏ: “Cũng giống như học một ngôn ngữ nói, một trong những cách tốt nhất để thông thạo là đắm mình vào nó”. [5]

1. CÁC KỸ NĂNG MÁY TÍNH CƠ BẢN

  • Viết email là một trong những kỹ năng bạn cần chú ý rèn giũa; 
  • Hiểu biết về các lệnh trên bàn phím sẽ giúp bạn cải thiện trình độ kỹ thuật số của bản thân; 
  • Sử dụng Prezi thay vì PowerPoint nhằm nâng cao hiệu suất và có một bài thuyết trình ấn tượng trước các giảng viên và đồng nghiệp.

2. KỸ NĂNG SỬ DỤNG MÁY TÍNH / CÔNG NGHỆ NÂNG CAO

Giống như các kỹ năng khác, bạn có thể chinh phục được những kỹ năng này nếu có công cụ phù hợp và ý chí tìm tòi học hỏi.

  • Làm quen với lập trình không còn khó vì hiện nay có rất nhiều trang web dạy lập trình cơ bản miễn phí. Ví dụ như codecademy;
  • Máy tính của bạn đang chậm dần sau thời gian dài sử dụng, nhưng chuyện đó có thể được giải quyết nếu bạn biết cách nâng cấp bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên (RAM). 

3. AN TOÀN TRỰC TUYẾN

Hãy đặc biệt chú ý bảo vệ máy tính của bạn và bảo mật thông tin cá nhân bằng cách tìm hiểu những cách sau đây:

  • Bảo vệ máy tính của bạn khỏi virus;
  • Mã hóa ổ cứng của bạn. 

4. ĐÁNH GIÁ NỘI DUNG

Bạn cần biết cách xác định xem một bài báo hoặc trang web có đáng tin cậy hay không và cần lưu ý hơn nữa nếu những nguồn thông tin đó dùng cho công việc hay nghiên cứu khoa học.

Google Safe Browser là một công cụ hữu ích để biết trang web có an toàn hay không. Nhập “http://google.com/safebrowsing/diagnostic? site =” trước địa chỉ trang web mà bạn sẽ truy cập để kiểm tra.

5. TÌM KIẾM VIỆC LÀM TRỰC TUYẾN

Bạn có thể tìm được việc làm tốt nếu có chút bí quyết và tận dụng đúng nguồn lực hỗ trợ.

  • Sử dụng các trang web tuyển dụng trực tuyến như Glints, Vietnamworks, Careerbuilder. Bạn nên kiểm tra độ tin cậy của nhà tuyển dụng tiềm năng trước khi đăng tải CV;
  • Tìm kiếm các doanh nghiệp trong lĩnh vực bạn quan tâm và cập nhật các bài đăng tuyển dụng trên trang web của họ;
  • Kết nối với các nhà tuyển dụng tiềm năng trên LinkedIn và theo dõi các công ty cùng lĩnh vực để thể hiện sự quan tâm của bạn;

Thế giới liên tục biến đổi, sự phát triển của khoa học công nghệ có thể giúp con người sống sung túc tiện nghi hơn nhưng kèm theo đó là những rủi ro, thiên tai hay dịch bệnh cũng có thể đặt con người vào tình thế khó khăn và bắt buộc họ không ngừng tìm tòi học hỏi để thích nghi và bắt kịp với chúng. Thế hệ GenZ hội tụ đủ điều kiện để tự mình trau dồi kiến thức và nâng cao những kỹ năng để hòa nhịp cùng làn sóng thay đổi ấy cũng như giúp đỡ cộng đồng vượt qua khó khăn mà họ chưa đủ khả năng khắc phục. Tiếp tục theo dõi các bài viết từ chúng tôi để nắm bắt cho mình nhiều cơ hội trải nghiệm thú vị nhé!

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Law, N., Woo, D., de la Torre, J., & Wong, G. (2018). A global framework of reference on digital literacy skills for indicator 4.4. 2. UNESCO Institute for Statistics (UIS/2018/ICT/IP/51).

[2] Mô hình và khung kiến thức số. Khai thác ngày 05/03/2021 từ https://nlv.gov.vn/nghiep-vu-thu-vien/mo-hinh-va-khung-kien-thuc-so.html

[3] Tương lai giáo dục Việt Nam làm sao để phát triển bền vững? Khai thác ngày 27/02/2021 từ https://vietcetera.com/vn/tuong-lai-giao-duc-truc-tuyen-viet-nam-lam-sao-de-phat-trien-ben-vung?fbclid=IwAR1VWGOXErjvna8uAsv_tpUQBNL-nM1WV3Z2k1jWXuFtS5hruM_uYP9PJ7A

[4] Tọa đàm: Chuyển đổi kỹ năng số ở Việt Nam. Khai thác ngày 27/02/2021 từ  https://www.unicef.org/vietnam/vi/th%C3%B4ng-c%C3%A1o-b%C3%A1o-ch%C3%AD/t%E1%BB%8Da-%C4%91%C3%A0m-chuy%E1%BB%83n-%C4%91%E1%BB%95i-k%E1%BB%B9-n%C4%83ng-s%E1%BB%91-%E1%BB%9F-vi%E1%BB%87t-nam

[5] 5 ways to develop your digital literacy skills. Retrieved from https://www.rasmussen.edu/student-experience/college-life/ways-to-develop-digital-literacy-skills/

Tác giả: Thảo Lưu

THÔNG HIỂU TRUYỀN THÔNG – P2: CÁC DẠNG THÔNG TIN SAI LỆCH

Trong phần 1 của loạt bài viết cung cấp kiến thức về Thông Hiểu Truyền Thông (Media Literacy), STEP đã cùng các bạn tìm hiểu lịch sử, định nghĩa cũng như những ví dụ chân thực trong đời sống thường ngày của cụm từ này. Ngoài ra, chúng ta cũng đã hiểu được lý do vì sao kỹ năng Thông Hiểu Truyền Thông (Media Literacy Understanding) lại trở thành một trong những kỹ năng quan trọng nhất của thế hệ trẻ Gen Z hiện nay. 

Trong phần 2 của loạt bài này, STEP sẽ cùng các bạn đào sâu hơn về những gì cần biết cũng như phương pháp giúp bạn cải thiện kỹ năng Thông Hiểu Truyền Thông của bản thân.

Cụ thể, trong bài viết này, STEP sẽ giải thích lịch sử, định nghĩa và ví dụ của 3 chiếc “bẫy” thông tin. Việc nhận biết và tránh những chiếc “bẫy” này khi tham gia trao đổi thông tin ở mạng lưới truyền thông hiện nay cũng là một điều trung tâm và tiên quyết trong kỹ năng Thông Hiểu Truyền Thông. 

1. ĐỊNH NGHĨA

Dưới tán ô của Thông Hiểu Truyền Thông (Media Literacy), có 3 cụm từ chính miêu tả những “bẫy” thông tin thường thấy trên mạng lưới thông tin:

  • Thông Tin Sai Lệch (Misinformation)
  • Thông Tin Đánh Lạc Hướng (Disinformation)
  • Tuyên Truyền Định Hướng (Propaganda)

Theo Handbook (Sổ tay) hướng dẫn việc xây dựng chương trình Giáo Dục và Đào Tạo ngành Báo Chí của UNESCO, Thông Tin Sai Lệch (Misinformation) được định nghĩa là: thông tin không chính xác về một sự việc/sự vật/con người, nhưng không được tạo ra với mục đích gây hại; Thông Tin Đánh Lạc Hướng (Disinformation) nghĩa là: thông tin không chính xác và được chủ đích tạo ra nhằm gây hại cho một người, tổ chức hay một đất nước;  và Tuyên Truyền Định Hướng (Propaganda): thông tin được đưa ra với mục đích định hướng thái độ, suy nghĩ, tâm lý và ý kiến cá nhân của một bộ phận quần chúng lớn theo chiều hướng mà người cung cấp thông tin mong muốn. 

Thông tin gi Ngun: Internet

2. LỊCH SỬ:

Từ xa xưa, việc trao đổi thông tin đã được con người phát triển thành một hệ thống truyền thông. Hệ thống này ngày càng trở nên phức tạp và thay đổi theo dòng lịch sử. 

THÔNG TIN ĐÁNH LẠC HƯỚNG (DISINFORMATION) VÀ TUYÊN TRUYỀN ĐỊNH HƯỚNG (PROPAGANDA)

Theo Posetti và Matthews (2018), những loại thông tin sai lệch hay mang tính định hướng đã xuất hiện từ năm Circa 44 BC (trước Công Nguyên), tức hơn 2000 năm trước đây. Vào lúc đó, Mark Antony – một chính trị gia người Hy Lạp Cổ Đại bị những người chống đối đảng của ông – hội Octavian bôi nhọ danh tiếng bằng cách khắc lên đồng xu những câu slogan sai lệch về Antony.

Trải qua hơn 1000 năm sau, những loại thông tin này lại được sử dụng rộng rãi và trở nên thông dụng ở Thế Chiến Thứ Nhất (1914-1918) và cả Thế Chiến Thứ Hai (1939-1945). Những thông tin mang tính Tuyên Truyền Định Hướng (Propaganda) được sử dụng rất nhiều cho mục đích chiêu mộ binh lính, thúc đẩy sự thù ghét đối phương nhằm hợp thức hóa chiến tranh thời bấy giờ. 

CHIẾN TRANH – VÙNG ĐẤT MÀU MỠ CHO THÔNG TIN ĐÁNH LẠC HƯỚNG

Tm dch: Bn s chiến đu ngay bây gi hay đi đến khi Chuyn Này xy ra?

Những hình ảnh mang tính thù ghét, gieo rắc nỗi sợ và hiềm khích với đối phương được sử dụng phổ biến nhằm kích động tinh thần chiến đấu của binh lính và động viên những thanh niên trẻ tham gia chiến trận . Tuy nhiên, những hình ảnh hoặc thông tin này được tạo ra không hề dựa trên sự thật hay từ lời nói của ai, mà hoàn toàn là những thông tin bịa đặt, không chính xác nhằm phục vụ những mục tiêu chính trị cụ thể.

Như vậy, chúng ta có thể thấy chiến tranh là một vùng đất màu mỡ cho những thông tin đánh lạc hướng và thông tin mang tính tuyên truyền định hướng, được tạo ra với mục đích phục vụ cho cuộc chiến, để hợp thức hóa cũng như hợp lý hóa chiến tranh trong lòng nhân dân các nước châu Âu và Mỹ thời bấy giờ.

Nói cách khác, mục đích của Thông Tin Đánh Lạc Hướng (Disinformation) và Tuyên Truyền Định Hướng (Propaganda) là: tạo ra những thông tin không đúng sự thật nhằm mục đích bôi nhọ một đối tượng, và định hướng tâm lý quần chúng theo hướng tiêu cực về đối tượng đó (có thể mang tính chính trị hoặc không).

THÔNG TIN SAI LỆCH (MISINFORMATION)

Tuy nhiên, Thông Tin Sai Lệch (Misinformation), theo chiều dọc lịch sử, lại không phổ biến trong những cuộc chiến. Vùng đất màu mỡ của Thông Tin Sai Lệch (Misinformation) là những lĩnh vực mang tính quảng cáo, phục vụ mục tiêu mang tính kinh tế, lợi nhuận hơn là những mục tiêu chính trị. 

Một ví dụ điển hình của vùng đất nơi những dạng thông tin này có thể được tìm thấy là những quảng cáo, poster nằm trong danh mục Sản Phẩm Ăn Kiêng (Diet Product). Trong bản báo cáo mới nhất về Quản lý Thị trường Giảm Cân và Ăn Kiêng ở Mỹ vào năm 2019, ngành Kinh Tế Ăn Kiêng (Diet Industry) đã trở thành một ngành kinh tế trị giá 72 tỷ Đô la Mỹ ở quốc gia này.

THÔNG TIN SAI LỆCH TRONG VĂN HÓA ĂN KIÊNG (DIET CULTURE)

Với đời sống về vật chất và tinh thần ngày càng tăng, nhu cầu cải thiện và sự quan tâm về sức khỏe của con người cũng ngày càng tăng theo. Lợi dụng tâm lý đám đông về sức khỏe, nhiều dạng Thông Tin Sai Lệch (Misinformation) được đưa ra nhằm mục đích kích thích tiêu dùng, tăng doanh thu bán hàng của bất kỳ loại sản phẩm nào liên quan tới ăn kiêng hoặc giảm cân. Không chỉ dừng lại ở đó, những sản phẩm tưởng như được liệt vào danh sách cần tránh khi ăn kiêng như đường, cũng được thương mại hóa theo một hướng tích cực về chuyện giảm cân nhằm kích thích tiêu dùng.

Tm dch: Đường có th tr thành sc mnh tinh thn bn cn đ ăn ít đi

Những thông tin thế này không mang tính thù địch hay bôi nhọ một chủ thể nào, nhưng việc tiếp nhận những thông tin này sẽ dẫn đến những hành động sai lệch. Ví dụ như việc ăn đồ ngọt nhiều hơn vào lúc cần giảm cân.

Sự ra đời của Internet vào thế kỷ 20 và Mạng xã hội vào thế kỷ 21 đã đặt tiền đề cho một cuộc Khủng Hoảng Tin Giả (Fake News Crisis) của xã hội nói chung và ngành Báo chí, Truyền thông nói riêng ở thế kỷ 21.

Tuy nhiên, sau khi Internet (1983) và Mạng xã hội (1997) ra đời, chiến tranh không còn là vùng đất độc quyền những dạng thông tin này. Tốc độ phủ sóng kèm với sự phát triển công nghệ nhanh chóng đã biến Internet và sau này là Mạng xã hội trở thành vùng đất chính của Thông Tin Sai Lệch (Misinformation), Thông Tin Đánh Lạc Hướng (Disinformation) và Tuyên Truyền Định Hướng (Propaganda).

Posetti và Matthews (2018), trong Bản Hướng Dẫn Ngắn về Lịch sử của Tin Giả và Thông Tin Đánh Lạc Hướng (A Short Guide to History of Fake News and Disinformation) đã nhận định rằng, sự ra đời của Internet vào thế kỷ 20 và Mạng xã hội vào thế kỷ 21 đã đặt tiền đề cho một cuộc Khủng Hoảng Tin Giả (Fake News Crisis) của xã hội nói chung và ngành Báo chí, Truyền thông nói riêng ở thế kỷ 21. 

3. BẢNG SO SÁNH, TỔNG KẾT SỰ GIỐNG/KHÁC NHAU GIỮA MISINFORMATION – DISINFORMATION – PROPAGANDA

Sau khi nhìn lại lịch sử của 3 loại thông tin trên, STEP hy vọng các bạn đã có một cái nhìn bao quát và hiểu biết hơn về tính chất cũng như mục đích của chúng.

Thông Tin Sai Lệch (Misinformation)Thông Tin Đánh Lạc Hướng (Disinformation)Tuyên Truyền Định Hướng (Propaganda)
Giống nhauĐều là những thông tin không chính xác, không đúng sự thật và không có bằng chứng khoa học.
Khác nhauĐược tạo ra không với mục đích bôi nhọ, gây tổn thất cho một chủ thể hay tổ chức nào.Được tạo ra với mục đích bôi nhọ, gây tổn thất cho một hay nhiều chủ thể/tổ chức.Được tạo ra với mục đích định hướng, lái tâm lý quần chúng theo hướng người tạo ra thông tin mong muốn. Thường được sử dụng với mục đích chính trị.

THAM KHẢO:

  1. Posetti, J. and Matthews, A., 2018. A Short Guide To The History Of ‘Fake News’ And Disinformation: A New ICFJ Learning Module. [online] International Center for Journalists. Available at: <https://www.icfj.org/news/short-guide-history-fake-news-and-disinformation-new-icfj-learning-module> [Accessed 22 December 2020].
  2. UNESCO. 2020. Journalism, ‘Fake News’ And Disinformation: A Handbook For Journalism Education And Training. [online] Available at: <https://en.unesco.org/fightfakenews> [Accessed 22 December 2020].
  3. Markets, R., 2020. United States Weight Loss & Diet Control Market Report 2019: 2018 Results & 2019-2023 Forecasts – Top Competitors Ranking With 30-Year Revenue Analysis. [online] Prnewswire.com. Available at: <https://www.prnewswire.com/news-releases/united-states-weight-loss–diet-control-market-report-2019-2018-results–2019-2023-forecasts—top-competitors-ranking-with-30-year-revenue-analysis-300803186.html#:~:text=The%20U.S.%20weight%20loss%20market,use%20free%20diet%20%26%20fitness%20apps.> [Accessed 22 December 2020].
  4. Henderson, G. and Braun, M., 2016. Propaganda And Rhetoric In Democracy. [online] Google Books. Available at: <https://books.google.co.jp/books?hl=vi&lr=&id=KodkDQAAQBAJ&oi=fnd&pg=PA118&dq=propaganda+definitions&ots=P5XuU5jrFr&sig=t_RIMAddZpFLByMBJeWDORE4VPQ&redir_esc=y#v=onepage&q=propaganda%20definitions&f=false> [Accessed 22 December 2020].

MEDIA LITERACY – THÔNG HIỂU TRUYỀN THÔNG (P1)

By Kieu Khanh

Kết thúc một tuần làm việc, bạn đã bao giờ tự hỏi: Trung bình tuần vừa qua, bạn đã dành bao nhiêu giờ đồng hồ để lên mạng đọc tin tức, nghe nhạc hoặc truy cập vào các trang mạng xã hội? Có thể là 1 tiếng, 2 tiếng hay 5 tiếng?

Theo bài báo cáo Global Digital Report 2019 bởi We are Social và Hootsuite [1], trung bình mỗi người Việt Nam dành 6 tiếng 42 phút để truy cập Internet thông qua tất cả các thiết bị điện tử, người Philippines dành 10 tiếng 02 phút (cao nhất trên thế giới) còn người Nhật sử dụng 3 tiếng 45 phút. Thêm vào đó, trung bình thời gian người Việt Nam sử dụng mạng xã hội là 2 tiếng 32 phút, trong khi người Phi-líp-pin dùng 4 tiếng 12 phút, người Nhật chỉ dành 36 phút và trung bình của thế giới là 2 tiếng 16 phút.

Với lượng thời gian truy cập mạng chiếm khoảng ¼ ngày, chúng ta đang tiếp cận nguồn tài nguyên tri thức truyền thông đa dạng và phức tạp. Vậy làm sao chúng ta có thể xử lý những thông tin này và nhìn nhận những ảnh hưởng của mạng xã hội đến cuộc sống thường ngày?

Từ vấn đề này, kênh Youtube Crash Course về giáo dục [2] đã đưa “media literacy” là một trong những kỹ năng cần thiết trong thời đại công nghệ 4.0, bao gồm các kỹ năng tiếp cận, đánh giá, phân tích và tạo ra thông điệp trong truyền thông xã hội. Bài viết này sẽ mang đến những kiến thức hữu ích liên quan đến media literacy hay còn gọi là thông hiểu truyền thông.

Media literacy là gì?

Theo định nghĩa của từ điển Cambridge, “literacy” là khả năng biết đọc và biết viết, rộng hơn còn có nghĩa là trình độ học vấn về một lĩnh vực nào đó. Nhưng nếu chỉ “biết đọc” khi tiếp xúc với truyền thông xã hội thì chưa đủ bởi chúng bao hàm rất nhiều hình ảnh, ngôn từ, âm thanh với ngữ pháp đặc biệt, cùng nhiều tầng ý nghĩa về thông điệp và tư tưởng.

Bên cạnh đó, “media” là số nhiều của “medium” hay truyền thông đa phương tiện. “Medium” là phương tiện truyền tải thông điệp, một “medium” có thể là tờ báo, tin nhắn, cuộc hội thoại, âm nhạc, tivi, radio, v.v. Trong khóa học Media Literacy được thực hiện bởi Crash Course, Jay Smooth đã đưa ra các ví dụ về “media” như sách, phim, tranh vẽ, bài hát, chương trình truyền hình, thơ ca, trò chơi điện tử, báo chí, podcast, video âm nhạc, báo in, diễn đàn trên mạng, phiếu giảm giá, thư cuối tuần gửi qua email, những dòng tweets, hóa đơn, biển báo giao thông, các tác phẩm nghệ thuật đường phố thể hiện thông điệp tốt hoặc xấu, bài đăng trên Snapchat, băng-rôn, áp-phích cổ động, những từ ngữ được viết trên tờ lịch mà dì của bạn mua tặng, thông báo về tin tức mới, bức ảnh hồi nhỏ mà bạn đăng trên mạng, hay đĩa blu-ray sao lưu bộ phim tuyệt vời xếp thứ hai mọi thời đại – Titanic, tất cả đều được gọi là “media”.

Hơn nữa, “the media” (phương tiện truyền thông đại chúng – mass communication) cũng bao hàm những kênh báo chí, truyền hình phân phối rộng rãi khắp đất nước, các trang web, đài phát thanh, hãng phim, và những phương tiện phân phối, cung cấp thông tin như kênh truyền hình CNN, tờ báo The New York Times, Đài phát thanh công cộng quốc gia (NPR), kênh Disney hoặc nền tảng chia sẻ trực tuyến Youtube.

Do vậy, từ những ví dụ nêu trên, chúng ta đang tiếp cận với rất nhiều hình thức truyền thông xã hội và thật khó có thể kiểm soát hay theo dõi những thông tin mà chúng ta tiếp nhận được mỗi phút, mỗi giờ, mỗi ngày.

Để hiểu rõ hơn về media literacy, theo định nghĩa của National Association of Media Literacy Educators [3], thông hiểu truyền thông (media literacy) là “khả năng truy cập, phân tích, đánh giá, tạo ra và sử dụng tất cả các phương tiện truyền thông”.

“Media literacy is the ability to access, analyze, evaluate, create and act using all forms of communication.” 

Thông qua khái niệm này, khi tiếp cận với một nguồn thông tin mới, mỗi cá nhân cần đặt ra 5 câu hỏi quan trọng, bao gồm:

  1. Truy cập: Bạn đang tiêu thụ loại nội dung nào và làm sao để bạn tiếp cận được nó?
  2. Phân tích: Bạn có hiểu rõ thông điệp của nó không?
  3. Đánh giá: Bạn có nhận thức được rằng mỗi thông điệp được tạo ra bởi một ai đó và chúng dựa trên mục đích và quan điểm của họ?
  4. Kiến tạo: Khi tạo ra một hình thức truyền thông, giống như một bài đăng trên trang cá nhân hay trên Instagram, bạn có trách nhiệm gì với những người nhìn thấy nó?
  5. Phản hồi: Bạn sẽ làm gì với những thông tin mới nhận được?

Với sự tràn lan của thông tin đại chúng một cách khó kiểm soát, chúng ta cũng cần chất vấn: Tôi có thể tin tưởng nguồn thông tin nào? (“What information can I truly trust?”)

Marshall McLuhan, một triết gia người Canada, từng nói: “Cách chúng ta giao tiếp quan trọng hơn những điều chúng ta giao tiếp.” (“The way we communicate is more important than what we communicate”). Ông ngụ ý rằng, bất kỳ loại hình truyền thông nào đều có thể thay đổi cách chúng ta suy nghĩ, tư duy và điều ấy cũng sẽ thay đổi mối quan hệ của chúng ta với thế giới bên ngoài.

Và dù bạn có tự tin vào khả năng sử dụng công nghệ và mạng xã hội cũng như hiểu biết về quyền năng quản lý của các tập đoàn công nghệ như thế nào, học media literacy sẽ giúp bạn nhìn nhận mọi thứ sâu sắc và tinh tường hơn, như đeo thêm một cặp kính mới. Và rồi, chỉ khi đã thử đeo nó, bạn sẽ không bao giờ muốn tháo nó ra khi tiếp cận với nguồn thông tin truyền thông xã hội.

Câu chuyện về báo lá cải (Yellow Journalism/Tabloid Journalism)

Theo Giáo sư Frank Esser, Mỹ và Anh có nền công nghiệp báo chí lá cải lâu đời nhất lịch sử [4]. Đặc biệt, “báo lá cải” bắt nguồn từ “yellow journalism” ở Mỹ vào những năm 1890 với mục đích không chỉ cung cấp thông tin mà còn tăng lợi nhuận cho tòa báo.

Ngoài ra, thuật ngữ “yellow journalism” cũng ám chỉ loại báo tập trung đến các xu hướng giật gân, thổi phồng thông tin hơn là cung cấp sự thật. Thuật ngữ này xuất hiện từ cuộc đua về doanh thu trên thị trường báo chí thành phố New York giữa hai tòa báo lớn – tờ New York World – Joseph Pulitzer và tờ New York Journal – William Randolph Hearst. Khi tờ New York World nổi tiếng với series truyện tranh “Ngõ của Hogan” (Hogan’s Alley) cùng nhân vật chính là một cậu bé mặc đồ màu vàng (the Yellow Kid) được vẽ bởi họa sỹ Outcault, chủ bút Pulitzer đã nhận được số lượng phát hành tăng vọt cho tờ báo của ông. Năm 1896, nhằm tăng doanh thu cho tờ New York Journal, Hearst đã cố gắng lôi kéo và mua chuộc Outcault về tờ báo của mình. Nhưng chủ bút Pulitzer không hề bỏ cuộc, ông đã thuê một họa sỹ khác và tiếp tục vẽ nhân vật truyện tranh cho tờ New York World. Nhờ có nhân vật “the Yellow Kid” nổi tiếng, lợi nhuận của serie truyện tranh này đã khởi nguồn cho thuật ngữ “yellow journalism” [5] [6].

Đáng chú ý, trong thời hoàng kim vào cuối thế kỷ 19, báo lá cải cũng là một trong những nguyên nhân chính gây ra chiến tranh giữa Mỹ và Tây Ban Nha ở Cuba và Philippines, dẫn đến cuộc tranh giành lãnh thổ nước ngoài và sau cùng, Mỹ chiếm được một phần lãnh thổ thuộc địa nước ngoài từ Tây Ban Nha [5].

Trong khi ở Anh, báo lá cải (tabloid journalism) ra mắt lần đầu tiên khi Lord Northcliffe xuất bản tờ Daily Mirror năm 1903 và  biến nó trở thành tờ báo lá cải đầu tiên ở quốc gia này [4]. Sau đó, Northcliffe giới thiệu ý tưởng báo lá cải đến Joseph Medill Patterson, đối tác của tờ báo Chicago Tribune và bắt đầu tờ Illustrated Daily News ở New York vào năm 1919 như một tờ báo lá cải đầu tiên được công nhận ở Mỹ với mỗi tờ báo trị giá chỉ 2 xu [7].

Bên cạnh đó, người Anh quốc cũng phân biệt rõ ràng báo lá cải với báo chính thống [8]. Họ coi những tờ báo lá cải cung cấp các tin giật gân về cướp-giết-hiếp, soi mói các nhân vật nổi tiếng, bàn chuyện phiếm, xem bói và tin tức lặt vặt.

Theo nhà báo Phạm Đoan Trang (2014) [9], báo lá cải được coi là loại báo đưa thông tin với mục đích tối đa hóa lợi nhuận, không đại diện cho quyền lợi của xã hội giám sát hoạt động của các cơ quan chính quyền-nhà nước cũng như không tố cáo, phát hiện các hiện tượng sai trái, tiêu cực trong xã hội, mặc dù vẫn dựa theo nguyên tắc chính xác và công bằng của ngành báo chí. Bên cạnh đó, báo chí giải trí (entertainment media) cũng là loại báo nhằm tối đa hóa lợi nhuận, giúp người tiêu dùng thư giãn, giải trí, không coi trọng tính chính xác, sự công bằng, hay giám sát chính quyền. Chẳng hạn, báo lá cải gồm Ngôi Sao, 2Sao, Tin Tức Online còn báo giải trí có Kênh 14, Haivl, v.v.

Hơn nữa, báo chí trong Luật Báo chí Việt Nam (2016) được định nghĩa “là sản phẩm thông tin về các sự kiện, vấn đề trong đời sống xã hội thể hiện bằng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được sáng tạo, xuất bản định kỳ và phát hành, truyền dẫn tới đông đảo công chúng thông qua các loại hình báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử.” [10]. Nhưng báo chí không chỉ có mục đích cung cấp, phân phối, truyền đạt thông tin mà còn để kiếm tiền, đem lại lợi nhuận cho bất kỳ tổ chức nào phân phối, thực hiện nội dung ấy. [11]

Ngoài ra, chúng ta có xu hướng tin vào những thứ mà chúng ta muốn tin – hay còn gọi là thiên kiến xác nhận (confirmation bias). Ví dụ, bạn Nam có niềm tin rằng những người thuận tay trái sáng tạo hơn những người thuận tay phải. Khi bạn ấy gặp một người vừa thuận tay trái và có thiên hướng nghệ sĩ, bạn ấy sẽ củng cố thêm bằng chứng ủng hộ niềm tin đã có sẵn của bạn về người thuận tay trái sáng tạo, và có thể sẽ bỏ qua hoặc phủ nhận những bằng chứng không liên quan đến niềm tin này [12], chẳng hạn như bằng chứng về người thuận tay phải cũng sáng tạo như người thuận tay trái. Tận dụng hiệu ứng tâm lý này, các công ty quản lý phương tiện truyền thông tạo dụng thông tin bạn tiếp nhận hay nhìn thấy thông qua phân tích hành vi con người, tâm lý học, nhân khẩu học như độ tuổi, giới tính, thói quen, sở thích, đề tài bạn thường quan tâm, v.v. và cả thuật toán máy tính để đoán trước các hành vi tiêu dùng của bạn. Điều này sẽ ảnh hưởng đến cách chúng ta thu thập, tiếp cận thông tin và cũng ảnh hưởng cách chúng ta hiểu, giải thích và nhớ lại những thông tin đã tiếp cận.

Cuối cùng, tác giả muốn trích dẫn một câu nói trên mạng xã hội, “nếu bạn không phải trả tiền cho sản phẩm của họ, bạn chính là món hàng của họ” [13]. Và khi tiếp cận với một nguồn thông tin mới, thay vì “Follow your guts!” (Lắng nghe con tim) hay còn được hiểu theo nghĩa “Follow your perceptions of bias and textual analysis skills” (Lắng nghe cảm nhận về thiên kiến, định kiến và những kỹ năng phân tích văn bản của bạn), hãy suy nghĩ cẩn trọng và có chính kiến trước những nguồn thông tin đa dạng trên mạng truyền thông.

Và bạn có thể thực hành ngay sau khi đọc xong câu trích dẫn vừa rồi, bạn có chắc chúng ta là món hàng của tất cả phương tiện truyền thông xã hội nếu chúng ta không trả tiền cho họ? Và điều ấy có thật sự đúng không?

Bài viết phần 2 về media literacy sẽ cung cấp những “cái bẫy” mà truyền thông xã hội ảnh hưởng đến chúng ta.

Tác giả: Kiều Khanh

Tham khảo:

[1] Global Digital Report 2019 https://wearesocial.com/global-digital-report-2019 (Slide 40, 77). Accessed 01/12/2020

[2] Crash Course: Media Literacy

https://www.youtube.com/watch?v=sPwJ0obJya0&list=PL8dPuuaLjXtM6jSpzb5gMNsx9kdmqBfmY Accessed 29/11/2020

[3] National Association of Media Literacy Educators.  https://namle.net/resources/media-literacy-defined/ Accessed on 03/12/2020

[4] Esser, Frank (1999). Tabloidization of News. A Comparative Analysis of Anglo-American and German Press Journalism. European Journal of Communication, 14:3, 291-324. [294]

[5] U.S Diplomacy and Yellow Journalism, 1895-1898. Retrieved from https://history.state.gov/milestones/1866-1898/yellow-journalism. Accessed 03/12/2020.

[6] Yellow Journalism. Retrieved from https://willingo.com/yellow-journalism/ Accessed 01/12/2020

[7] How NY Daily News found success as first U.S tabloid in 1919. 2019. Retrieved from https://www.nydailynews.com/new-york/ny-daily-news-founded-1919-20190623-nyrfketymfc5niilj43uef4sua-story.html. Accessed 03/12/2020.

[8] Nguyễn Hùng. 2012. Thế nào là báo “lá cải”? Báo Lao Động. https://laodong.vn/archived/the-nao-la-bao-la-cai-676522.ldo. Accessed 02/12/2020

AGoose. 2019. Những điều mình học được từ khóa học Media Literacy https://spiderum.com/bai-dang/Nhung-Dieu-Minh-Hoc-Duoc-Tu-Khoa-Hoc-Media-Literacy-ekf Accessed 30/11/2020

[9] Phạm Đoan Trang. 2014. Căn bản về Truyền thông và Báo chí.

[10] Quốc hội Việt Nam. 2016. Luật báo chí Việt Nam 2016.  https://thuvienphapluat.vn/van-ban/van-hoa-xa-hoi/Luat-Bao-chi-2016-280645.aspx

[11] Media Literacy – Chúng ta có thể bị truyền thông dắt mũi như thế nào

https://lazycattt.wordpress.com/2019/10/03/media-literacy-chung-ta-co-the-bi-truyen-thong-dat-mui-nhu-the-nao/ Accessed 30/11/2020

[12] Kendra Cherry. (2020). How confirmation bias works. Updated 19/02/2020. Accessed 03/12/2020

https://www.verywellmind.com/what-is-a-confirmation-bias-2795024

[13] MetaFilter, community weblog, blue_beetle’s profile https://www.metafilter.com/user.mefi/15556

BẠN CÓ BIẾT MẠNG XÃ HỘI ĐANG THAO TÚNG BẠN KHÔNG?

MẠNG XÃ HỘI VÀ SỰ THAO TÚNG

Chắc hẳn với thời đại của sự bùng nổ về mặt công nghệ thì mạng xã hội không còn quá xa lạ với tất cả chúng ta, từ học sinh cho đến người đã về hưu. Mọi người ai cũng biết đến những nền tảng kết nối phổ biến ở Việt Nam như Facebook, Zalo, Youtube,.. Đến những mạng xã hội nổi tiếng thế giới như Twitter, Wechat, Tumblr,.. Thế nhưng, bạn có thật sự thông hiểu truyền thông?

Có nhiều loại hình, tuy nhiên điểm chung thường tập trung vào các vấn đề sau: Người dùng tự cung cấp nội dung, ý tưởng và chia sẻ rộng rãi trên mạng xã hội. Nhờ lợi ích của mạng xã hội sẽ giúp họ chia sẻ những câu chuyện cá nhân, các tấm hình, video đến với mọi người đã kết nối trên mạng. [1]

Thế nhưng, bất cứ chuyện gì cũng có 2 mặt, vậy mặt trái của mạng xã hội là gì, ngoài những tin tức mà chúng ta đều thấy rất nhiều về việc “nghiện” và trầm cảm vì mạng xã hội,…

Thực tế, ngành công nghệ đang tồn tại một vấn đề mà chỉ những ai làm trong ngành mới biết đến. Nó chưa có một cái tên cụ thể cũng như chưa có liên quan rõ ràng đến nguồn nào, thế nhưng cách mà nó hoạt động là lý do khiến chúng ta thường xuyên thấy các cựu nhân viên làm ở Facebook hay Twitter cứ liên tục muốn “lột trần” công ty.

CHÚNG TA LÀ GÌ TRÊN MẠNG XÃ HỘI?

Đề mục này không nói đến việc ta là người bán hàng online hay là người có sức ảnh hưởng trên các nền tảng công cộng, mà nói về việc chúng ta được xem là gì. Một số có thể biết mạng xã hội kiếm tiền nhờ vào quảng cáo, thế nên khách hàng của mạng xã hội là những doanh nhân – người chi trả cho những quảng cáo đó. Vậy chúng ta – những người dùng mạng xã hội thì là gì với nó? Chúng ta chính là thứ bị bán đi. 

Có một câu nói kinh điển từ những thập niên 1970: “Nếu như bạn không chi trả cho sản phẩm, thì bạn chính là sản phẩm”

Nói rõ hơn, hầu hết ta nghĩ những thứ online là miễn phí, kể cả dịch vụ như Google, Email.

Thế nhưng không phải, chúng được nhà quảng cáo chi trả, và tại sao nhà quảng cáo lại trả tiền cho những công ty đó? Chính là để hiển thị quảng cáo cho ta xem. Sự chú ý của chúng ta là sản phẩm được bán, chưa hết, những thông tin của chúng ta về độ tuổi, giới tính, địa điểm, những thứ mà mạng xã hội buộc chúng ta điền vào khi đăng ký tạo tài khoản, tất cả đều được bán đi.

“Khoan đã! Những điều này thì có vấn đề gì to tát đâu? Cũng chỉ vài thông tin nhỏ của bản thân và xem một ít quảng cáo. Đổi lại với lợi ích mà chúng đem tới cho tôi”.

Đó chưa phải tất cả những gì mà mạng xã hội làm với chúng ta.

THỊ TRƯỜNG KINH DOANH HÀNH VI CON NGƯỜI:

THEO DÕI VÀ PHÂN TÍCH:

Đã bao giờ bạn thấy bài báo về mạng xã hội như đã “nghe lén” ta chưa? Ví dụ như giờ ra chơi, bạn rời lớp, cầm theo điện thoại. Bạn đến canteen và nhắc đến kẹo Mentos với bạn bè. Lát sau khi bạn quay lại lớp và lướt web, bạn thấy bài quảng cáo về kẹo Mentos. Bạn có thể hơi ngờ ngợ nhưng cũng không để ý mấy vì có lẽ chỉ là trùng hợp. Thế nhưng, có thật sự là trùng hợp không?

Tất cả những thứ mà bạn làm ở trên mạng đều đang bị quan sát, theo dõi và phân tích. Không những thế, mọi hành động đều được giám sát và ghi lại. Ví dụ như chính xác bao nhiêu giây bạn nhìn vào bức ảnh đó và lướt tiếp.

DỰ ĐOÁN HÀNH VI:

Tik Tok là một trong các phương tiện thông tin dự đoán hành vi con người rất chính xác. Bạn chỉ cần cho thông tin về những chủ đề mà bạn muốn xem. Sau đó, ở mục “Dành cho bạn” sẽ hiện ra vô số những video ngắn mà bạn quan tâm. Tất nhiên, sự chính xác đó ngày càng tăng lên khi bạn cứ tiếp tục xem và nhấn “yêu thích”. Ngày qua ngày, hệ thống biết được bạn thích gì, khi vui buồn thì xem gì. Quan trọng nhất là quảng cáo lúc nào thì cơ hội cao nhất là bạn mua.

“Gieo hành động gặt thói quen, gieo thói quen gặt tính cách, gieo tích cách gặt số phận.”

Với những thông tin về hành vi, được đưa vào hệ thống phân tích mà không có sự giám sát của con người. Trên cơ sở đó, máy móc và hệ thống bắt đầu đưa ra những dự đoán chuẩn xác hơn, đầu tiên là về bài đăng tiếp theo mà ta sẽ xem sau đó sẽ dần dần dự đoán về những việc ta làm và cả định hình tính cách của ta.

Thế giới thế kỷ 21 đã được tạo ra mà kết nối online là việc không thể thiếu, nhất là với giới trẻ. Cách duy nhất mà mạng xã hội tạo ra tiền khi hai người bất kì kết nối với nhau, là nhờ vào bên thứ 3 tài trợ. Có nghĩa là có sự xuất hiện của mánh khóe. Dần dần, với quy mô toàn cầu, một thế hệ được tạo ra và phát triển trong một bối cảnh. Mà trong đó, ý nghĩa của giao tiếp lẫn văn hóa, chính là sự thao túng.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

[1] Nguyen K. (n.d.). Lợi ích và tác hại đối với giới trẻ của mạng xã hội là gì? Kết Nối Việc. Retrieved October 15, 2021,

Orlowski, Jeff. 2020. The Social Dilemma. Exposure Labs, Argent Pictures, The Space Program

Người viết: Huỳnh Thanh Trà

GLOBAL LITERACY – PHẦN 2: SỰ ĐA DẠNG CỦA THẾ GIỚI

Trong phần trước của loạt bài về năng lực toàn cầu (global literacy), chúng tôi giải thích năng lực toàn cầu là gì và tại sao nó quan trọng trong thời đại hiện nay. Trong quá trình tìm hiểu và phát triển năng lực toàn cầu, một trong những vấn đề được quan tâm nhiều nhất là sự đa dạng của thế giới. Trong bài viết này, chúng ta sẽ giải mã sự đa dạng này và thái độ nên có của mọi người.

Mô hình giáo dục của chúng tôi luôn đề cao sự đa dạng: chương trình METHINK với sự đa dạng về vùng miền tại Việt Nam, chương trình GLOBAL YOU với sự tham gia và điều phối từ bạn bè quốc tế, hay chương trình DIGITAL SKILLS tạo điều kiện cho sự giao lưu giữa các bạn học sinh Việt Nam và Singapore… Với đặc điểm này, các khóa học của chúng tôi không chỉ là truyền đạt kiến thức từ điều phối viên tới học viên, đó còn là cơ hội để các bạn học viên học hỏi lẫn nhau. Và quan trọng hơn hết, môi trường của chúng tôi là môi trường không phán xét, vì vậy, dù có sự khác biệt, các bạn vẫn luôn được tôn trọng.

SỰ ĐA DẠNG VĂN HÓA

Chắc hẳn đã từng có vài lần, khi nghe một câu chuyện hài hước của nước ngoài, bạn không cảm thấy vui dù bạn giỏi ngoại ngữ và hiểu toàn bộ. Hay những vụ việc khách du lịch ngoại quốc bị xử phạt nặng mà chẳng biết lí do. Đó là bởi chúng ta chưa thực sự hiểu rõ về nền văn hóa đó và sự đa dạng văn hóa trên thế giới. Đa dạng văn hóa là khi tồn tại đồng thời nhiều nền văn hóa với đặc điểm ngôn ngữ, niềm tin, tập quán, … khác nhau. Và hơn thế nữa, văn hóa không đứng yên mà luôn chuyển động cùng sự phát triển của thế giới [1].

Có một số yếu tố cấu thành một nền văn hóa: hệ thống đạo đức và tôn giáo, cấu trúc xã hội, ngôn ngữ, nền giáo dục, triết lý chính trị và triết lý kinh tế [2]. Theo một nghiên cứu trên tạp chí Science, sự khác biệt về văn hóa Đông – Tây có thể bắt nguồn từ lịch sử hoạt động nông nghiệp, cụ thể là nền văn hóa lúa nước và văn hóa lúa mì. Từ việc trồng trọt, chăm sóc hai loài cây lương thực khác nhau này, con người của các vùng cũng dần hình thành những đặc điểm và thói quen tương ứng [3].

Đồng thời, đa dạng về văn hóa cũng là yếu tố thúc đẩy một số lĩnh vực khác. Việc giao lưu và trao đổi văn hóa hình thành nên một “kho tàng” thành tựu phát triển của nhân loại. Bạn quyết định đi du lịch đến một vùng đất mới là để khám phá, tìm hiểu đặc điểm của địa phương đó. Bạn học ngoại ngữ là để kết nối với nhiều người hơn trên thế giới, hiểu rõ hơn về lối sống và xã hội của họ…

Ở những chương trình mang tính quốc tế, chúng tôi được hợp tác và làm việc với nhiều cá nhân hay tổ chức đến từ các quốc gia khác nhau: nhà tài trợ, đối tác, điều phối viên, các bạn học viên… Đây vừa là cơ hội vừa là thách thức đối với chúng tôi . Nhờ đặc điểm này mà chúng tôi xây dựng được những chương trình bổ ích, trải nghiệm giao lưu văn hóa và những ý tưởng mới lạ cho khóa học. Tuy nhiên, nó cũng bao gồm những khác biệt về quan điểm, hay sự chênh lệch múi giờ gây bất tiện cho hai bên. Nhưng chung quy lại, sự đa dạng đã tạo nên điểm độc đáo của chúng tôi và giúp học viên nhận được những giá trị xứng đáng từ các chương trình.

NHẬN THỨC VỀ SỰ ĐA DẠNG

Với sự hội nhập và phát triển toàn cầu, chúng ta sống và làm việc trong môi trường quốc tế, di chuyển hợp pháp qua các đường biên giới. Mỗi ngày, chúng ta đều được tiếp xúc với những người khác nhau, từ những quốc gia khác nhau, tôn thờ những tín ngưỡng khác nhau. Vậy nên, việc nhận thức và hiểu biết đúng đắn về sự đa dạng là rất cần thiết.

Nhận thức về văn hóa là khi bạn hiểu được sự tương đồng và khác biệt của những nền văn hóa đang tồn tại, tôn trọng những đặc điểm đó. Điều quan trọng trong quá trình nhận thức về văn hóa là tinh thần không phán xét, không áp đặt định kiến cá nhân, rằng đây là ‘tốt’ hay ‘xấu’, ‘đúng’ hay ‘sai’ [4].

Ngoài ra, thế giới ngày càng phát triển thì con người ngày càng thay đổi về tư duy. Có thể nhận thấy rõ ràng, con người hiện đại tự tin thể hiện cá tính và màu sắc riêng của mình. Ngày trước, người ta sử dụng từ “melting pot” (nghĩa đen: nồi lẩu thập cẩm) để chỉ xã hội ở Mỹ. Đó là khi con người từ mọi nơi tạo nên làn sóng nhập cư đến Mỹ, họ làm việc, sinh sống, hòa nhập và dần dần bị “đồng hóa”. Nhưng ngày nay, cụm từ “mosaic” (nghệ thuật khảm) hay “tossed salad” (salad trộn) đang dần thay thế cho “melting pot”. Là nơi mà những viên đá hay mảnh thủy tinh vẫn giữ nguyên màu sắc, đặc điểm của nó và cùng nhau tạo nên một bức tranh tuyệt đẹp. Hay tất cả cà rốt, dưa chuột, cà chua, diếp cá vẫn giữ nguyên hình dáng, hương vị riêng biệt trong một bát salad ngon lành [5]. Khi đó, con người tự hào về nền văn hóa và những nét độc đáo của chính mình. Vì vậy, chúng đang sống trong một thế giới của sự đa dạng, đa dạng về văn hóa và đa dạng về màu sắc cá nhân của mỗi người.

CON NGƯỜI VỚI NHẬN THỨC VỀ SỰ ĐA DẠNG

Với nhận thức về sự đa dạng của thế giới, chúng ta sẽ phát triển hơn ở nhiều khía cạnh. Quá trình hội nhập toàn cầu tạo điều kiện cho con người tiếp xúc với những thành tựu nổi bật của thế giới, cũng đòi hỏi chúng ta mỗi ngày phải nâng cao năng lực cạnh tranh của mình. Và nhận thức về sự đa dạng văn hóa sẽ giúp chúng ta làm việc hiệu quả hơn trong môi trường quốc tế. Khi đó, ta có thể giao tiếp dễ dàng hơn, nhanh chóng loại bỏ những hiểu lầm hay xung đột, học hỏi nhiều điều hay ho từ các nền văn hóa khác… [6] Hay nói ngắn gọn, nhận thức về sự đa dạng là chìa khóa của cánh cửa hội nhập.

Trước khi tìm hiểu về sự đa dạng của thế giới, chúng ta cần phải hiểu rõ về chính mình: xác định giá trị của bản thân và tự hào về nền văn hóa dân tộc. Ngoài ra, chúng ta cần có tinh thần cởi mở, không phán xét, loại bỏ những định kiến bảo thủ khi đón nhận những điều mới mẻ của thế giới. Hơn hết, hãy học cách quan sát, lắng nghe và đồng cảm với mọi người. Đó là cách giúp con người cảm nhận sâu sắc sự đẹp đẽ của mọi nền văn hóa.

Trái Đất là một ngôi làng lớn mà chúng ta đang cùng chung sống. Mọi suy nghĩ, hành động của con người đều có tác động tới sinh hoạt của ngôi làng này. Vì vậy, hãy hiểu trách nhiệm của bản thân – một công dân toàn cầu, hiểu mọi người và hiểu thế giới.

 

[1] What is Cultural Differences. IGI Global. What is Cultural Differences | IGI Global (igi-global.com)

[2] Sự khác biệt về văn hóa. Academia. Sự khác biệt  về văn hóa | Academia (academia.edu)

[3] Cách lý giải mới về nguyên nhân khác biệt văn hóa Đông-Tây. (09/05/2014). Khai thác 18/08/2021:  https://www.vietnamplus.vn/cach-ly-giai-moi-ve-nguyen-nhan-khac-biet-van-hoa-dongtay/258909.vnp

[4] Understanding a different culture. Reach Out.  Understanding a different culture | Reach Out (au.reachout.com)

[5] An Overview of Diversity Awareness. PennState Extension. (12/09/2017). Khai thác 19/08/2021: https://extension.psu.edu/an-overview-of-diversity-awareness

[6] Vì sao bạn nên hiểu biết về khác biệt văn hóa?. Vietcetera. (07/04/2020). Khai thác 20/08/2021: https://vietcetera.com/vn/vi-sao-ban-nen-hieu-biet-ve-khac-biet-van-hoa